Quảng cáo
3 câu trả lời 12668
Nam Cao được biết đến không chỉ là một nhà văn hiện thực kiệt xuất mà còn là một nhà văn thường hay băn khoăn trăn trở về quan điểm sáng tác văn học. Trải qua biết bao thăng trầm, sự thể nghiệm và suy ngẫm của bản thân về văn chương và hiện thực cuộc đời, Nam Cao đã mượn lời nhân vật Điền trong “Trăng sáng’ như để phát biểu: “Nghệ thuật không cần phải là ảnh trăng lừa dối, nghệ thuật không nên là ánh trăng lừa dối; nghệ thuật có thế chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp sống lầm than…". Ý kiến này rất xứng đáng là một tuyên ngôn nghệ thuật của trường phái hiện thực, trương phái dứt khoát từ bỏ chủ nghĩa lãng mạn thoát li để trở về với chủ nghĩa hiện thực chân chính.
Trước hết, đầu tiên khi nói về Nam Cao về tuyên ngôn nghệ thuật này. Nhà văn như muốn khẳng định nghệ thuật chân chính phải bát rễ trong đời sống hiện thực, khòng được thoát li đời sống để trớ thành lừa dối.
Khi đi sâu tìm hiểu cuộc đời nhà vãn, chúng ta thấy từ khi còn là một cậu học sinh, Nam Cao đâ từng mơ ước sáng tác. Có thể nói trong thời kì này, ông đà có nhiều thơ, truyện đăng báo với các bút danh Thuý Rư, Xuân Du, Nhiêu Khê, Nguyệt.. Cũng như biết bao học sinh tiểu tư sản đương thời, Nam Cao đã phải chịu ảnh hướng nặng của vãn thơ lãng mạn thoát li. Nhưng vì đã được tiếp xúc với cuộc sống cùng khổ của nhân dân, lại là nhà văn có lương tri, giàu tình yêu thương quần chúng, nhà văn Nam Cao dường như đã sớm nhận ra tính chất giả dối phù phiếm của thứ văn chương “thơm tho’’ đó, nó rất lạc lõng, xa lạ đối với cuộc sống của hàng triệu quần chúng lầm than và bản thân tác giả hồi bấy giờ. Điền được xây dựng lên là nhân vật chính trong tác phẩm Trăng sáng chính là hình bóng cuộc đời cúa tác giả. Cuộc đời Điền là cuộc đời của một ông giáo khố trường tư với đồng lương chết đói không nuôi nổi bản thân, còn nói gì đến chuyện nuôi gia đình. Con Điền, đứa thì phải đi chăn trâu, đứa thì phải chạy chợ kiếm ngày mấy xu rau; vợ Điền thì cuộc sống lầm than, cái nghèo đói đã làm cho tâm hồn thị trở nên nhỏ nhen, ích kỉ, cằn cỗi, tàn nhẫn.
Có lẽ chính vì cái sự thật nghiệt ngã ấy đã giết chết bao nhiêu ước mơ lãng mạn của Điền. Nhiều khi Điền phải quên cái mộng văn chương để kiếm tiền; cơm áo đã ghì Điền sát đất. Khi Điền nhìn thấy cảnh vợ vì cùng quần, túng thiếu mà “đánh con lớn, chửi con nhỏ, quăng cái chổi, đá cái thúng, vừa dẫm chân bành bạch, vừa kêu trời”, Điền như đã cảm thấy mình gần như tủi cực. Với tâm trạng hỗn độn ấy, nhìn lên trời “Trăng nhởn nhơ như một cô gái non vừa có nhân tình. Gió nhẹ nhàng đặt lên lá những bước chân vũ nữ. Trăng tỏa mộng xuống trần gian… cho những tâm hồn khát khao ngụp lặn..”, Điền mới nhận ra rằng “nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối”. “Ánh trăng lừa dối” ở đây là hình ảnh tiêu biểu cho văn chương lãng mạn thoát li, lấy “mây gió trăng hoa” làm nguồn thi hứng chủ yếu. Ánh trăng lừa dối gợi nhớ đến mặt trời chân thực. Trong hoàn cảnh lúc bấy giờ, khi mà đất nước đang đau dưới gót giày giặc ngoại xâm, nhân dân đang chịu cảnh lầm than đau khổ, thì thứ văn học chỉ đi tìm cái thi vị, tìm cái đẹp trong thiên nhiên thuần túy, trong ảo ảnh của ánh sáng vay mượn, chỉ là thứ văn chương thoát li, hưởng lạc, thi vị hóa cuộc sống.
Nam Cao được biết đến không chỉ là một nhà văn hiện thực kiệt xuất mà còn là một nhà văn thường hay băn khoăn trăn trở về quan điểm sáng tác văn học. Trải qua biết bao thăng trầm, sự thể nghiệm và suy ngẫm của bản thân về văn chương và hiện thực cuộc đời, Nam Cao đã mượn lời nhân vật Điền trong “Trăng sáng’ như để phát biểu: “Nghệ thuật không cần phải là ảnh trăng lừa dối, nghệ thuật không nên là ánh trăng lừa dối; nghệ thuật có thế chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp sống lầm than…". Ý kiến này rất xứng đáng là một tuyên ngôn nghệ thuật của trường phái hiện thực, trương phái dứt khoát từ bỏ chủ nghĩa lãng mạn thoát li để trở về với chủ nghĩa hiện thực chân chính.
Trước hết, đầu tiên khi nói về Nam Cao về tuyên ngôn nghệ thuật này. Nhà văn như muốn khẳng định nghệ thuật chân chính phải bát rễ trong đời sống hiện thực, khòng được thoát li đời sống để trớ thành lừa dối.
Khi đi sâu tìm hiểu cuộc đời nhà vãn, chúng ta thấy từ khi còn là một cậu học sinh, Nam Cao đâ từng mơ ước sáng tác. Có thể nói trong thời kì này, ông đà có nhiều thơ, truyện đăng báo với các bút danh Thuý Rư, Xuân Du, Nhiêu Khê, Nguyệt.. Cũng như biết bao học sinh tiểu tư sản đương thời, Nam Cao đã phải chịu ảnh hướng nặng của vãn thơ lãng mạn thoát li. Nhưng vì đã được tiếp xúc với cuộc sống cùng khổ của nhân dân, lại là nhà văn có lương tri, giàu tình yêu thương quần chúng, nhà văn Nam Cao dường như đã sớm nhận ra tính chất giả dối phù phiếm của thứ văn chương “thơm tho’’ đó, nó rất lạc lõng, xa lạ đối với cuộc sống của hàng triệu quần chúng lầm than và bản thân tác giả hồi bấy giờ. Điền được xây dựng lên là nhân vật chính trong tác phẩm Trăng sáng chính là hình bóng cuộc đời cúa tác giả. Cuộc đời Điền là cuộc đời của một ông giáo khố trường tư với đồng lương chết đói không nuôi nổi bản thân, còn nói gì đến chuyện nuôi gia đình. Con Điền, đứa thì phải đi chăn trâu, đứa thì phải chạy chợ kiếm ngày mấy xu rau; vợ Điền thì cuộc sống lầm than, cái nghèo đói đã làm cho tâm hồn thị trở nên nhỏ nhen, ích kỉ, cằn cỗi, tàn nhẫn.
Có lẽ chính vì cái sự thật nghiệt ngã ấy đã giết chết bao nhiêu ước mơ lãng mạn của Điền. Nhiều khi Điền phải quên cái mộng văn chương để kiếm tiền; cơm áo đã ghì Điền sát đất. Khi Điền nhìn thấy cảnh vợ vì cùng quần, túng thiếu mà “đánh con lớn, chửi con nhỏ, quăng cái chổi, đá cái thúng, vừa dẫm chân bành bạch, vừa kêu trời”, Điền như đã cảm thấy mình gần như tủi cực. Với tâm trạng hỗn độn ấy, nhìn lên trời “Trăng nhởn nhơ như một cô gái non vừa có nhân tình. Gió nhẹ nhàng đặt lên lá những bước chân vũ nữ. Trăng tỏa mộng xuống trần gian… cho những tâm hồn khát khao ngụp lặn..”, Điền mới nhận ra rằng “nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối”. “Ánh trăng lừa dối” ở đây là hình ảnh tiêu biểu cho văn chương lãng mạn thoát li, lấy “mây gió trăng hoa” làm nguồn thi hứng chủ yếu. Ánh trăng lừa dối gợi nhớ đến mặt trời chân thực. Trong hoàn cảnh lúc bấy giờ, khi mà đất nước đang đau dưới gót giày giặc ngoại xâm, nhân dân đang chịu cảnh lầm than đau khổ, thì thứ văn học chỉ đi tìm cái thi vị, tìm cái đẹp trong thiên nhiên thuần túy, trong ảo ảnh của ánh sáng vay mượn, chỉ là thứ văn chương thoát li, hưởng lạc, thi vị hóa cuộc sống.
Chứng minh nhận định: “Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật chỉ có thể là tiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than” qua tác phẩm Lão Hạc của Nam Cao
Nam Cao là một trong những nhà văn hiện thực xuất sắc của nền văn học Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Ông luôn quan niệm văn chương phải gắn liền với cuộc sống, phản ánh chân thực số phận con người, đặc biệt là những người lao động nghèo khổ. Vì thế, ông từng khẳng định: “Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật chỉ có thể là tiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than”. Quan điểm ấy được thể hiện rõ nét qua truyện ngắn Lão Hạc.
Trước hết, “ánh trăng lừa dối” là thứ nghệ thuật xa rời hiện thực, chỉ tô hồng cuộc sống, che giấu những đau khổ của con người. Ngược lại, “tiếng đau khổ thoát ra từ những kiếp lầm than” là nghệ thuật chân chính, phản ánh trung thực hiện thực cuộc sống, cất lên tiếng nói cảm thông sâu sắc đối với những con người bất hạnh. Đây chính là quan điểm nghệ thuật tiến bộ của Nam Cao: văn chương phải hướng tới con người và phục vụ cuộc sống.
Trong tác phẩm Lão Hạc, Nam Cao đã phản ánh chân thực cuộc sống cơ cực, bế tắc của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám. Lão Hạc là một người nông dân nghèo, vợ mất sớm, sống cô đơn với người con trai. Vì nghèo đói, không có tiền cưới vợ nên con trai lão phải bỏ đi làm đồn điền cao su. Một mình lão sống trong cảnh thiếu thốn, chỉ còn con chó Vàng làm bạn. Những khó khăn chồng chất khiến lão phải bán đi người bạn thân thiết ấy. Sau khi bán chó, lão đau đớn, dằn vặt đến mức “mặt co rúm lại”, “những nếp nhăn xô lại với nhau”, “cái đầu ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít”. Những chi tiết ấy đã tái hiện chân thực nỗi đau tinh thần của một con người lương thiện bị cái nghèo dồn ép.
Không chỉ phản ánh nỗi khổ vật chất, Nam Cao còn đi sâu khám phá bi kịch tinh thần của người nông dân. Lão Hạc sống trong cảnh đói khổ nhưng vẫn luôn giữ lòng tự trọng và tình yêu thương con sâu sắc. Lão chấp nhận ăn khoai, ăn sung luộc, củ chuối, thậm chí từ chối sự giúp đỡ của ông giáo để giữ lại mảnh vườn cho con. Cuối cùng, lão tìm đến cái chết bằng bả chó để bảo toàn tài sản cho con trai. Cái chết dữ dội, đau đớn của lão Hạc tố cáo xã hội thực dân phong kiến bất công đã đẩy những người nông dân lương thiện vào bước đường cùng.
Bên cạnh việc phản ánh hiện thực khắc nghiệt, tác phẩm còn thể hiện tấm lòng nhân đạo sâu sắc của Nam Cao. Nhà văn phát hiện và ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của người nông dân nghèo. Dù sống trong cảnh khốn cùng, lão Hạc vẫn giàu lòng yêu thương, giàu đức hi sinh và giữ gìn nhân cách trong sạch. Qua nhân vật ông giáo, Nam Cao còn gửi gắm niềm tin vào bản chất lương thiện của con người. Ông giáo nhận ra rằng muốn hiểu và yêu thương con người thì phải nhìn họ bằng sự cảm thông và trân trọng.
Về nghệ thuật, truyện ngắn Lão Hạc thành công ở cách xây dựng nhân vật chân thực, miêu tả tâm lí tinh tế, ngôn ngữ giản dị mà giàu sức biểu cảm. Những yếu tố ấy góp phần làm nổi bật hiện thực đau thương và giá trị nhân đạo của tác phẩm, qua đó thể hiện rõ quan điểm nghệ thuật của Nam Cao.
Tóm lại, qua truyện ngắn Lão Hạc, Nam Cao đã chứng minh rằng nghệ thuật chân chính không phải là sự tô vẽ, che đậy hiện thực mà phải phản ánh những đau khổ của con người và cất lên tiếng nói nhân đạo sâu sắc. Tác phẩm là minh chứng tiêu biểu cho quan niệm: “Nghệ thuật chỉ có thể là tiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than”, đồng thời khẳng định tài năng và tấm lòng của Nam Cao đối với những người nông dân nghèo trong xã hội cũ.
Quảng cáo
Bạn cần hỏi gì?
Câu hỏi hot cùng chủ đề
-
106267
-
Hỏi từ APP VIETJACK82453
-
Hỏi từ APP VIETJACK78315
-
Hỏi từ APP VIETJACK62848
-
Hỏi từ APP VIETJACK49591
-
39034
