Quảng cáo
4 câu trả lời 574
Phân tích bài thơ "Vịnh Khoa Thi Hương" của Trần Tế Xương
Mở bài:
Trần Tế Xương (1870 – 1907), một trong những cây bút nổi bật trong nền văn học Việt Nam thế kỷ XIX, nổi tiếng với phong cách thơ trào phúng sắc sảo, mỉa mai, phê phán xã hội phong kiến. Bài thơ "Vịnh Khoa Thi Hương" là một trong những tác phẩm tiêu biểu thể hiện tinh thần phê phán sâu sắc của Trần Tế Xương đối với nền thi cử phong kiến, một xã hội không công bằng và đầy những quy tắc giả tạo. Bài thơ không chỉ phản ánh sự chán chường của tác giả với khoa thi hương mà còn thể hiện sự bất mãn với chế độ thi cử và những giá trị xã hội đang tồn tại.
Thân bài:
Khái quát về hoàn cảnh sáng tác và nội dung bài thơ:
Bài thơ được sáng tác trong hoàn cảnh Trần Tế Xương vừa tham gia khoa thi Hương nhưng không đạt được thành công. Cái "khổ" của người thi sĩ đã khiến ông bức xúc, và bài thơ "Vịnh Khoa Thi Hương" ra đời như một lời lên án mạnh mẽ đối với chế độ thi cử, chỉ ra những bất công trong việc tuyển chọn nhân tài của xã hội phong kiến.
Nội dung bài thơ phản ánh thái độ bức xúc, đau xót của tác giả về một nền thi cử mà trong đó, những người tài giỏi không hẳn sẽ đỗ đạt, mà ngược lại, có thể những kẻ thiếu tài lại dễ dàng trở thành "tiến sĩ". Bài thơ chính là một tiếng nói phản kháng về sự giả tạo, thiếu công bằng trong xã hội đương thời.
Phân tích hình thức và nội dung bài thơ:
Hình thức: Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú (8 câu, mỗi câu 7 chữ), thể thơ truyền thống của văn học cổ điển Việt Nam. Hình thức này giúp bài thơ dễ dàng truyền tải được cảm xúc và suy nghĩ của tác giả, đồng thời thể hiện sự mạch lạc trong cách tư duy của Trần Tế Xương.
Nội dung: Mở đầu bài thơ, Trần Tế Xương đã khéo léo đưa ra một câu hỏi với thái độ mỉa mai:
"Năm trước thi hương, thi hội đỗ, Bây giờ thi cử lại vương thua."
Hai câu thơ này thể hiện sự mâu thuẫn giữa kỳ vọng và thực tế trong việc tham gia kỳ thi. Trần Tế Xương không chỉ muốn than vãn về sự thất bại cá nhân mà còn muốn chỉ trích sự bất công của kỳ thi. Cách ông sử dụng từ "thua" để miêu tả kết quả thi thể hiện sự thất vọng, và đồng thời mỉa mai một hệ thống không xét đến tài năng thực sự.
Đặc biệt, phần giữa bài thơ thể hiện rõ sự chế giễu và phê phán đối với nền thi cử của xã hội phong kiến:
"Chỉ được vế vế lăng tăng, Đã chịu luỵ cho xã tắc."
Hai câu thơ này vừa phản ánh sự bất công, vừa thể hiện tâm trạng bức bối, khó chịu của tác giả. "Lăng tăng" có thể hiểu là sự lung lay, không vững vàng, một lời chỉ trích đối với sự vô nghĩa của việc thi cử. Còn "xã tắc" lại nhắc đến quyền lực và những lợi ích mà người thi đỗ sẽ có được, cho thấy xã hội phong kiến chỉ chú trọng đến quyền lực chứ không phải tài năng.
Giọng điệu trào phúng, mỉa mai:
Trong bài thơ, Trần Tế Xương đã sử dụng giọng điệu trào phúng để thể hiện sự bất mãn đối với xã hội phong kiến, đặc biệt là nền thi cử mà ông cho là đầy bất công. Ông không chỉ kể về sự thất bại của mình mà còn nhấn mạnh rằng có những người thiếu tài năng, lại dễ dàng đỗ đạt, trong khi những người tài giỏi lại không được coi trọng. Giọng điệu mỉa mai của tác giả được thể hiện rõ qua cách sử dụng từ ngữ và hình ảnh trong bài thơ.
Phê phán xã hội phong kiến:
Thông qua bài thơ này, Trần Tế Xương không chỉ phê phán hệ thống thi cử mà còn chỉ ra rằng xã hội phong kiến với những quy tắc xét tuyển nặng về hình thức, không thực sự quan tâm đến tài năng của con người. Đây là một cuộc phản kháng đối với chế độ thi cử đã tồn tại hàng thế kỷ, một chế độ mà ông cho là hư hỏng và bất công.
Thông điệp bài thơ:
"Vịnh Khoa Thi Hương" không chỉ là một bài thơ nói về sự thất bại cá nhân của Trần Tế Xương mà còn mang một thông điệp sâu sắc về sự giả tạo trong xã hội. Nó phản ánh nỗi đau của những người tài năng nhưng không được trọng dụng, và lên án một xã hội mà ở đó quyền lực, gia đình, và các yếu tố ngoài tài năng lại trở thành yếu tố quyết định trong việc tuyển chọn nhân tài.
Kết bài:
Trần Tế Xương qua bài thơ "Vịnh Khoa Thi Hương" đã thể hiện một thái độ phê phán mạnh mẽ đối với nền thi cử phong kiến. Ông đã khéo léo sử dụng ngôn ngữ trào phúng, mỉa mai để bày tỏ nỗi bất mãn và sự thất vọng về một hệ thống mà ông cho là không công bằng. Qua bài thơ, Trần Tế Xương đã phản ánh thực trạng xã hội, nơi mà tài năng không phải là yếu tố quyết định duy nhất. Đây là một bài thơ giàu tính hiện thực, đồng thời cũng là tiếng nói mạnh mẽ về sự thay đổi cần thiết trong xã hội thời bấy giờ.
Tú Xương là một nhà thơ nổi tiếng với những bài thơ châm biếm, hài hước trên diễn đàn thơ ca Việt Nam. Trong sự nghiệp đồ sộ của mình, ông có tới mười ba bài vừa thơ vừa phú nói thuộc đề tài "thi cử" với thái độ mỉa mai, phẫn uất với chế độ thi cử đương thời. "Vịnh khoa thi Hương" là bài thơ trong số mười ba bài thơ đó. Qua bài thơ, Tú Xương muốn vẽ nên cái hiện thực nhốn nháo, ô hợp của xã hội nửa thực dân nửa phong kiến qua hình ảnh một kì thi Hương quan trọng cũng đồng thời mượn đó nói lên tâm sự của mình trước tình cảnh đất nước.
"Nhà nước ba năm mở một khoa
Trường Nam thi lẫn với trường Hà
Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ
Ậm ọe quan trường miệng thét loa
Lọng cắm rợp trời quan sứ đến
Váy lê quét đất mụ đầm ra
Nhân tài đất Bắc nào ai đó
Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà".
"Vịnh khoa thi Hương" là một bức tranh chân thực sống động về chế độ thi cử của Việt Nam những năm cuối triều Nguyễn, trước con mắt giám sát của bọn thực dân Pháp. Đó là một bức tranh một kì thi long trọng mà lại được tổ chức thật là lố lăng, nhốn nháo.
Mở đầu bài thơ, Tú Xương đã khéo léo dẫn vào trong thơ của mình hình ảnh của một kì thi hương với những đặc điểm giống và khác so với trước kia. Thứ nhất, kì thi hương được "nhà nước" mở ba năm một lần như thường lệ.
"Nhà nước ba năm mở một khoa"
Đây là đặc điểm quy định bình thường của lệ thi cử nước nhà xưa nay. Thế nhưng, đặc điểm thứ hai mới làm cho người ta kinh ngạc.
"Trường Nam thi lẫn với trường Hà"
Vốn là hai nơi khác nhau, hai trường thi khác nhau, vậy mà năm nay thí sinh của hai trường này lại ngồi trộn "lẫn" với nhau. Lý do là vì khi thực dân Pháp đánh chiếm Hà Nội, trường thi ở Hà Nội bị bãi bỏ, "nhà nước" dồn các sĩ tử ở Hà Nội phải xuống trường Nam Định để thi. Đây là điểm bất thường mà năm nay mới. Hơn thế, Tú Xương cũng dùng ở đây chữ "lẫn" để diễn tả khung cảnh nhốn nháo, ô hợp của trường thi, đối lập với sự trang nghiêm cần có trong một kì thi hương quan trọng của triều đình.
Hai câu đề đã làm tốt vai trò mở đầu, giới thiệu của nó, để đến hai câu tiếp theo, người đọc được chứng kiến, kiểm nghiệm ngay cái sự nhốn nháo đã nói ở trên:
Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ
Ậm ọe quan trường miệng thét loa
Một khung cảnh thật là tạp nham, thật là nhốn nháo. Nào là sĩ tử đi thi, nào là quan lại coi thi cứ nhốn nháo hết cả lên, chẳng có quy cách của một kì thi hương quan trọng của triều đình. Hai nhân vật chính trong kì thi được bộc lộ, khắc họa thật rõ nét. Đồng thời cũng cho người đọc chúng ta thấy được cái tính cách, quy cách của trường thi năm nay thật khác biệt so với thời xưa. "Sĩ tử" là những người đi thi, đáng ra phải trông thật nho nhã, trang trọng, vậy mà ở đây toàn thấy là sự luộm thuộm, lôi thôi với bao nhiêu chai với lọ, thật nhếch nhác quá đỗi. Tú Xương đã cố ý đảo chữ "lôi thôi" lên đầu câu để nhấn mạnh cái sự nhếch nhác của các sĩ tử trong mùa thi hương lần này. Hình ảnh cái "lọ" - vốn được cho là đựng mực, đựng nước uống của sĩ tử, nhưng lại "đeo" trên vai. Nghe sao có vẻ mỉa mai đến thế. Cái hình ảnh ấy như đang gợi lên sự xiêu vẹo, sự đổ gãy, lếch thếch của những kẻ sau này vốn sẽ trở thành những trụ cột tương lai của đất nước. Và hơn thế, ông cũng muốn nhấn rằng những kẻ "vai đeo lọ" kia là những kẻ sĩ, những kẻ có tri thức trong xã hội mà lại không thể giữ cho mình cái phong thái mang danh kẻ sĩ ấy.
Không chỉ vậy, Tú Xương cũng nhấn mạnh thật kĩ hình ảnh của lũ "quan trường" - quan coi thi ở trường thi. Ông cũng đã tìm ra cho chúng một từ ngữ thật xứng đáng "ậm ọe".
"Ậm ọe quan trường miệng thét loa"
Nếu như lũ sĩ tử "lôi thôi", nhếch nhác bao nhiêu thì lũ quan trường lại "ậm ọe", lố lăng bấy nhiêu. Quả đúng là một từ ngữ sáng tạo xứng danh cái tên Tú Xương. Cái âm thanh "ậm ọe" ấy chỉ là những thanh âm ú ớ, không rõ tiếng rõ lời, nhưng lại được gân lên bằng sự la lối của đám quan lại trường thi. Nó cũng miêu tả cái sự phách lối, giáo điều, ra vẻ của đám quan trường ấy. Tú Xương đã đóng vai một nhà nhiếp ảnh để thu lại những hình ảnh chân thực nhất ở trường thi năm ấy. Bởi thi hương xưa có số lượng sĩ tử rất đông, diễn ra trên bãi đất trống, vậy nên phải dùng loa thì mới có thể nghe rõ được việc gọi tên. Thế nhưng, cái sự trang trọng trong việc gọi tên vào thi của kì thi hương ấy đã bị những kẻ làm quan kia lấn át, làm lu mờ bởi sự phách lối, vênh váo của những kẻ dựa hơi mà chẳng có chút thực quyền nào. Cho nên, kì thi hương ấy, không chỉ đám sĩ tử mất đi cái phong thái của một kẻ sĩ học chữ Nho mà đám quan lại cũng mất đi sự tôn kính, trang nghiêm của một kì thi lớn của đất nước.
Hai câu thơ đối nhau song song, làm nổi bật lên cái khung cảnh của trường thi. Nhưng trong đó, người ta thấy không chỉ là bóng dáng của trường thi với kì thi hương mà còn thấy khung cảnh hỗn tạp, nhốn nháo của đất nước khi rơi vào tình nửa thực dân nửa phong kiến. Và triều Nguyễn kia chẳng khác gì bức bình phong, một con rối bị điều khiển bởi chính quyền Pháp.
Chúng ta cũng thấy được ở trong câu thơ, cái sự mỉa mai đến tột độ của tác giả về triều đình nhà Nguyễn nhu nhược, đồng thời, hai câu thơ tiếp, ông bộc lộ một sự mỉa mai, khinh ghét đối với chính quyền thực dân:
"Lọng cắm rợp trời quan sứ đến
Váy lê quét đất mụ đầm ra"
Vẫn trung thành với lối tả thực, Tú Xương tiếp tục vẽ lại bức tranh trường thi khi mà nó được viếng thăm bởi tên Toàn quyền người Pháp cùng vợ của hắn. Không phải ngẫu nhiên mà Tú Xương lại đặt hình ảnh này vào trong hai câu thơ chủ chốt của bài thơ. Bởi hình ảnh của một "ông Tây" với "bà đầm" phản ánh thật đúng với cái tình cảnh của nước ta thời bấy giờ. Đó là xã hội mà người dân trở thành nô lệ, triều đình là một bức bình phong còn thực quyền ở trong tay người Pháp. Một kẻ cướp nước mà lại được đến tham quan một trường thi quan trọng, lại được đón tiếp bằng "lọng" bằng "cờ" thì thật là sự long trọng, kính cẩn đầy mỉa mai.
Không chỉ vậy, quan Tây bà đầm còn được miêu tả là được ngồi lên vị trí cao nhất của trường thi. Tú Xương đang ám chỉ điều gì? Phải chăng là cảnh nước mất nhà tan đã diễn ra ngay trước mắt?
Thế nhưng, phải thật tinh tế mới nhận ra, Tú Xương đã dùng thơ Đường làm vũ khí để mỉa mai thật sắc bén, để bày tỏ thái độ của mình đối với lũ cướp nước kia.
Sử dụng nghệ thuật thơ đối xứng, Tú Xương đặt cái "váy" của bà đầm và cái "lọng" của ông quan Tây được đặt ngang bằng, ghép hai hình ảnh đó lại, người ta thấy đó là mỉa mai đầy châm biếm, câu thơ như "chửi thẳng" vào mặt viên quan sứ người Tây kia. Không chỉ thế, tác giả đã dùng từ "quan sứ" để nói về ông quan tây nhưng lại dùng từ "mụ đầm" khi nói về vợ của ông ta, đây chẳng phải là một sự khinh bỉ, một sự "chơi xỏ" mà Tú Xương dành cho viên Toàn quyền Pháp kia hay sao? Bởi ai cũng biết, từ "mụ" để chỉ những hạng đàn bà không ra gì, gọi vợ của "quan sứ" là "mụ" thì khác gì nói ông "quan sứ" kia chỉ là "thằng" mà thôi sao? Quả thật, cái chửi của Tú Xương sâu cay và thâm thúy đến nhường nào!
Thế mới thấy, thơ Tú Xương không chỉ miêu tả cái hiện thực lạnh lùng, tàn khốc mà còn lồng cả vào đó tiếng cười sâu cay, đắng ngọt, phơi bày trong đó cái tâm của một kẻ sĩ yêu nước, đau lòng vì nước mất nhà tan nhưng vì lực yếu sức mỏng mà đành dùng lời văn làm vũ khí cho mình.
Để đến cuối cùng, cái cười kia chẳng thể át nổi niềm đau xót trong tâm của ông, nó bật ra thành tiếng:
"Nhân tài đất Bắc nào ai đó
Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà".
"Đất Bắc" vốn là từ chỉ Hà Nội, là nơi hội tụ của ngàn năm kinh đô, là nơi của bậc đế vương ngự trị, nơi của anh tài khắp đất nước hội tụ về đây. Lời thơ như một tiếng than đau xót vô vàn của Tú Xương khi mắt phải nhìn thấy đất nước đang dần rơi vào tay giặc. Ông đang nói với chính mình hay là đang kêu gọi ai, ai còn nghĩ tới nỗi nhục mất nước, ai còn tự hào với dân tộc bốn ngàn năm lịch sử này chăng? Đọc câu thơ mà ta thấy sự xót xa, đau xót của tác giả trước tình cảnh của đất nước. "Nhân tài" ở đây chỉ ai, nó chỉ là một từ phiếm chỉ, là những kẻ đã từng một lần mơ ước được bước qua cánh cửa thi hương này, hay là những kẻ đã từng đặt chân đến đây hãy nhìn xem "cảnh nước nhà"?
Ở đây, Tú Xương không quyết liệt thể hiện tư tưởng kêu gọi mọi người chung tay dẹp loạn như trong thơ Nguyễn Đình Chiểu:
"Hỡi trang dẹp loạn rày đâu vắng
Nỡ để dân đen mắc nạn này?"
Ở thơ Tú Xương, người ta chỉ thấy gợi lên sự nhục nhã khi mất nước, không mạnh bạo, quyết liệt như thơ Nguyễn Đình Chiểu. Ổng chỉ chỉ ra sự làm ngơ của những kẻ sĩ yêu nước đã quay đầu, làm ngơ, không quan tâm đến, mắt thấy tai nghe để lũ giặc cướp nước và bè lũ tay sai của chúng làm tan nát đất nước của mình. Ông kêu gọi họ hãy "ngoảnh cổ mà trông" - "ngoảnh cổ" ngoái lại nhìn, để thấy, để chứng kiến đất nước đang suy tàn trước lũ giặc. Ở hai câu kết này, cái cười châm biếm của Tú Xương chẳng còn nữa mà nhường chỗ cho nỗi đau xót vô vàn khi đất nước lâm nạn. Dường như ta còn thấy được cả những giọt nước mắt của ông cả trong tiếng cười sâu cay kia.
Bài thơ "Vịnh khoa thi Hương" của Tú Xương viết bằng thể thơ Đường thất ngôn bát cú. Với tài hoa, cùng nghệ thuật châm biếm sâu cay, ông đã dựng lên bức tranh về trường thi Hương những năm cuối triều Nguyễn với sự nhốn nháo, lố lăng của lũ quan trường, sự nhếch nhác của đám sĩ tử. Đồng thời, qua đó, ông cũng muốn vẽ lên cái hiện thực về xã hội phong kiến nửa thực dân bằng cái nhìn đầy mỉa mai của mình và gửi vào trong đó, tâm tư của một kẻ sĩ yêu nước trước tình cảnh của đất nước.
Vịnh khoa thi Hương là một trong những bài thơ đặc sắc nhất của Tú Xương vừa hiện thực lại vừa trữ tình. Qua đó khẳng định được tài năng của ông, khi chỉ cần vẽ lên một khung cảnh một kì thi Hương mà đã nói lên được cả cái bản chất của xã hội lúc bấy giờ.
Bài thơ "Vịnh Khoa Thi Lương" của Trần Tế Xương (còn gọi là Tú Xương) là một trong những tác phẩm tiêu biểu cho phong cách thơ ca của ông. Dưới đây là một phân tích bài thơ:
1. Tổng quan về tác giả:
Trần Tế Xương (1870-1907) là một trong những nhà thơ nổi tiếng của văn học Việt Nam cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Ông nổi bật với thể thơ Nôm, thường thể hiện tâm tư, tình cảm và hiện thực xã hội qua lăng kính châm biếm, hài hước.
2. Nội dung bài thơ:
Bài thơ "Vịnh Khoa Thi Lương" thể hiện nỗi lòng của tác giả về sự thi cử và những bất cập trong xã hội phong kiến. Bằng những hình ảnh và ngôn từ đặc sắc, Trần Tế Xương đã bộc lộ sự châm biếm, phê phán những thói hư tật xấu của xã hội, đồng thời tôn vinh giá trị tri thức và tấm lòng yêu nước.
3. Phân tích hình thức:
Thể thơ: Bài thơ sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú, một dạng của thơ Đường Luật rất phổ biến, phản ánh sự tinh tế và uyển chuyển trong ngôn ngữ.
Ngôn từ: Ngôn từ trong thơ giản dị, gần gũi nhưng đầy sức mạnh biểu cảm. Các từ ngữ được lựa chọn kỹ lưỡng để tạo ra những hình ảnh tương phản, mạnh mẽ.
4. Phân tích nội dung:
Tâm trạng tác giả: Có thể thấy được tâm trạng chua chát của tác giả khi nhắc đến sự thất bại trong thi cử, điều này không chỉ là vấn đề cá nhân mà còn phản ánh một hiện thực xã hội đầy bất công.
Sự phê phán: Tác giả phê phán những kẻ coi trọng lợi ích bản thân, không trung thực trong việc học tập và thi cử. Họ chỉ chạy theo thành tích mà thiếu đi bản chất tri thức chân chính.
Khát vọng về tri thức: Trong bối cảnh đó, Trần Tế Xương thể hiện lòng khao khát tri thức, tôn vinh những giá trị học tập đích thực, ý thức về việc phấn đấu vì tương lai.
5. Giá trị nghệ thuật:
Hình ảnh và biểu tưỏng: Sử dụng hình ảnh sinh động, dễ hình dung để tạo nên sức hấp dẫn cho bài thơ.
Âm điệu: Thể hiện được sự trào phúng và châm biếm, tạo nên sự độc đáo cho phong cách thơ của Trần Tế Xương.
6. Ý nghĩa sâu sắc:
Bài thơ không chỉ mang giá trị nghệ thuật mà còn là bài học về việc học tập và những giá trị đạo đức trong xã hội. Tác giả đã đưa ra những vấn đề tồn tại trong xã hội mà nhiều người cùng chung nỗi lo, đồng thời khơi gợi ý thức trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với quê hương, đất nước.
Kết luận:
Bài thơ "Vịnh Khoa Thi Lương" của Trần Tế Xương phản ánh sâu sắc tâm tư của một người trí thức trước thực trạng xã hội đầy bất công, đồng thời là lời nhắc nhở về giá trị của tri thức và nhân cách trong xã hội phong kiến. Qua tác phẩm, chúng ta cảm nhận được nỗi lòng của tác giả và sự trăn trở về tương lai dân tộc.
Quảng cáo
Bạn cần hỏi gì?
Câu hỏi hot cùng chủ đề
-
105051
-
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
81021 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
76645 -
Hỏi từ APP VIETJACK61790
-
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
48380 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
38179
