Quảng cáo
1 câu trả lời 48
Phân tích bài thơ “Qua Đèo Ngang” – Bà Huyện Thanh Quan
“Qua Đèo Ngang” là một trong những bài thơ tiêu biểu của Bà Huyện Thanh Quan, nữ thi sĩ nổi tiếng của văn học trung đại Việt Nam. Bài thơ được viết bằng thể thất ngôn bát cú Đường luật, thể hiện nỗi buồn sâu lắng, tâm trạng cô đơn của tác giả khi đi qua Đèo Ngang – ranh giới giữa hai vùng đất Quảng Bình và Hà Tĩnh. Qua những hình ảnh thiên nhiên hoang vắng, bài thơ gửi gắm nỗi nhớ nước, thương nhà và tâm trạng lẻ loi của người lữ khách.
1. Bức tranh thiên nhiên Đèo Ngang hoang sơ
Hai câu đề mở ra khung cảnh thiên nhiên khi chiều xuống:
Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.
Thời điểm “bóng xế tà” gợi cảm giác chiều muộn – thời khắc dễ khiến con người cảm thấy cô đơn và trầm lắng. Đây cũng là thời điểm thiên nhiên nhuốm màu hoài niệm.
Hình ảnh “cỏ cây chen đá, lá chen hoa” gợi nên một bức tranh thiên nhiên hoang sơ nhưng đầy sức sống. Các từ “chen” được lặp lại tạo cảm giác cây cỏ mọc tự nhiên, rậm rạp, chưa có bàn tay con người can thiệp.
Qua hai câu thơ đầu, người đọc thấy:
Khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ nhưng vắng vẻ
Không gian bao la, ít dấu vết con người
Tâm trạng tác giả bắt đầu man mác buồn
Thiên nhiên không chỉ được miêu tả để tả cảnh mà còn là phương tiện gợi cảm xúc.
2. Hình ảnh con người nhỏ bé, thưa thớt
Hai câu thực tiếp tục khắc họa cảnh vật nơi Đèo Ngang:
Lom khom dưới núi tiều vài chú,
Lác đác bên sông chợ mấy nhà.
Ở đây, con người xuất hiện nhưng rất ít ỏi.
“Lom khom”: dáng người tiều phu nhỏ bé, vất vả
“Lác đác”: vài mái nhà thưa thớt nơi chợ
Những từ láy “lom khom”, “lác đác” làm nổi bật sự hiu quạnh của cảnh vật. Con người hiện lên nhỏ bé giữa thiên nhiên rộng lớn.
Qua đó, ta cảm nhận:
Đèo Ngang là vùng heo hút, ít dân cư
Cuộc sống nơi đây bình dị, nghèo nàn
Không khí tĩnh lặng và cô quạnh
Cảnh vật càng vắng vẻ thì nỗi cô đơn của tác giả càng sâu sắc.
3. Nỗi nhớ nước thương nhà
Hai câu luận thể hiện trực tiếp tâm trạng của nhà thơ:
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.
Tiếng chim quốc và gia gia vang lên trong núi rừng chiều muộn. Trong thơ cổ, tiếng chim thường gợi nỗi buồn và hoài niệm.
Ở đây:
“Quốc quốc” gợi liên tưởng đến nỗi nhớ nước
“Gia gia” gợi nỗi nhớ nhà, nhớ quê
Đây là biện pháp chơi chữ và nhân hóa rất tinh tế. Tiếng chim như thay lời lòng người.
Qua hai câu thơ, ta thấy:
Nỗi lòng yêu quê hương đất nước
Tình cảm gia đình sâu nặng
Tâm trạng cô đơn của người xa quê
Cảnh vật và âm thanh thiên nhiên đã trở thành tấm gương phản chiếu tâm trạng của tác giả.
4. Tâm trạng cô đơn của người lữ khách
Hai câu kết khép lại bài thơ:
Dừng chân đứng lại: trời, non, nước,
Một mảnh tình riêng, ta với ta.
Tác giả dừng bước trước cảnh trời đất bao la. Không gian mở rộng với “trời – non – nước”, nhưng con người lại càng cô độc hơn.
Cụm từ “ta với ta” đặc biệt giàu ý nghĩa:
Chỉ có một mình đối diện với chính mình
Không có người chia sẻ tâm sự
Nỗi cô đơn trở nên sâu sắc và lặng lẽ
Đây là điểm nhấn cảm xúc của toàn bài thơ.
5. Giá trị nghệ thuật
Bài thơ thành công nhờ nhiều yếu tố nghệ thuật đặc sắc:
Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật chặt chẽ
Sử dụng từ láy gợi hình: lom khom, lác đác
Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình tinh tế
Cách chơi chữ với tiếng chim quốc – gia
Giọng thơ trầm buồn, sâu lắng
Những yếu tố này tạo nên một bài thơ ngắn gọn nhưng giàu cảm xúc.
Quảng cáo
Bạn cần hỏi gì?
Câu hỏi hot cùng chủ đề
-
104895
-
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
80820 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
76087 -
Hỏi từ APP VIETJACK61642
-
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
48190 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
38064
