Quảng cáo
4 câu trả lời 614
Bài văn phân tích bài thơ “Qua Đèo Ngang” – Bà Huyện Thanh Quan
Trong kho tàng thơ ca trung đại Việt Nam, “Qua Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan là một bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật đặc sắc, vừa mang vẻ đẹp cổ điển, vừa chứa đựng tâm trạng sâu kín của người phụ nữ tài hoa.
Bài thơ được sáng tác khi tác giả trên đường từ Thăng Long vào nhậm chức ở Huế, đi qua Đèo Ngang – ranh giới giữa hai miền Bắc và Trung. Ngay từ hai câu đầu, bức tranh thiên nhiên hiện ra mênh mang, cổ kính:
“Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.”
Thời điểm “bóng xế tà” – buổi chiều tà – vốn dễ gợi nỗi buồn man mác. Cảnh vật hiện lên vừa hoang sơ vừa sống động, thiên nhiên như có linh hồn, đan xen giữa sự tươi mới và hiu hắt.
Hai câu thực tiếp nối bằng âm thanh và hình ảnh của cuộc sống:
“Lom khom dưới núi tiều vài chú,
Lác đác bên sông chợ mấy nhà.”
Những từ láy “lom khom”, “lác đác” cùng số lượng ít ỏi “vài chú”, “mấy nhà” đã gợi cảnh vắng vẻ, con người nhỏ bé giữa thiên nhiên rộng lớn. Cảnh có sinh khí, nhưng ẩn chứa sự cô đơn, buồn vắng.
Đến hai câu luận, nỗi lòng tác giả bộc lộ rõ hơn:
“Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc,
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.”
Tiếng chim cuốc, chim đa đa vang lên giữa chiều vắng, không chỉ là âm thanh của thiên nhiên mà còn là tiếng lòng của thi nhân. “Nhớ nước”, “thương nhà” – nỗi niềm hoài cổ, nhớ quê hương, nhớ thời vàng son của Thăng Long, và cũng là tâm sự riêng của người phụ nữ xa quê, mang nặng tình nước tình nhà.
Hai câu kết khép lại bài thơ bằng nỗi cô đơn trải dài vô tận:
“Dừng chân đứng lại: trời, non, nước,
Một mảnh tình riêng ta với ta.”
Không gian mênh mông “trời – non – nước” đối lập với “mảnh tình riêng” bé nhỏ, càng làm nổi bật sự cô đơn thấm thía. Cụm từ “ta với ta” vừa là sự đối thoại nội tâm, vừa là tiếng thở dài của người cô đơn giữa đất trời rộng lớn.
Với ngôn ngữ cô đọng, tinh tế, phép đối chỉnh tề, hình ảnh giàu sức gợi, Bà Huyện Thanh Quan đã dựng nên bức tranh thiên nhiên đượm buồn và gửi gắm tâm sự u hoài của người trí thức xưa trước thời thế đổi thay.
“Qua Đèo Ngang” không chỉ là bài thơ tả cảnh ngụ tình tuyệt đẹp mà còn là tiếng nói tâm hồn của người phụ nữ trung đại – yêu thiên nhiên, yêu quê hương và mang nặng nỗi lòng nhớ nước, thương nhà. Bài thơ là viên ngọc sáng trong dòng thơ Nôm Đường luật của văn học Việt Nam.
Nguyễn Khuyến là người có cốt cách thanh cao và giàu lòng yêu nước, ông một lòng không hợp tác với kẻ thù. Ông được mệnh danh là “nhà thơ của dân tình, làng cảnh Việt Nam”. Ông để lại cho hậu thế nhiều tác phẩm thơ hay và đặc biệt là chùm ba bài thơ thu điển hình cho làng quê, phong cảnh Việt Nam. Trong đó nổi bật hơn cả là bài Câu cá mùa thu.
Nếu như ở bài Thu vịnh cảnh thu được đón nhận từ cao xa rồi mới đến gần thì bài Câu cá mùa thu khung cảnh thiên nhiên mùa thu lại được đón nhận ở một chiều kích khác: từ gần rồi tiến ra cao xa và từ cao xa trở về gần. Khung cảnh được mở ra với nhiều chiều hướng vô cùng sinh động.
Cảnh thu được mở ra với hình ảnh không gian hết sức trong trẻo:
“Ao thu lạnh lẽo nước trong veo
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo”
Không khí mùa thu được gợi nên từ sự dịu nhẹ, nguyên sơ nhất của cảnh vật với làn nước trong veo, không một gợn đục. Mùa hè đã đi qua, những cơn mưa lớn với dòng nước đỏ đục đã không còn thay vào đó là cái thanh tĩnh, trong trẻo của làn nước, của cảnh vật. Trong không gian nhỏ hẹp ấy là hình ảnh của chiếc thuyền câu nhưng nó không hề lọt thỏm giữa không gian thiên nhiên mà lại rất hài hòa, cân xứng. Tác giả vẽ ra khung cảnh tưởng như đối lập ao thu – thuyền câu, nhưng kì thực chúng lại hòa quyện với nhau đến kì lạ. Bởi vật tác giả chọn là ao thu chứ không phải hồ thu – gợi cảm giác rộng lớn, choáng ngợp. Ao thu ấy khi có thuyền câu bên cạnh trở nên hài hòa, cân xứng và đậm chất khung cảnh làng quê Bắc Bộ Việt Nam. Hai câu thơ đầu gieo vần eo nhưng không hề gợi lên cảm giác eo hẹp, nhỏ bé, tù túng mà ngược lại gợi nên cái nhỏ nhắn, thanh thoát của cảnh vật.
Bức tranh thu tiếp tục được Nguyễn Khuyến phác họa ở cặp câu thơ tiếp theo:
“Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo”
Những đường nét của khung cảnh cũng hết sức mảnh mai với sóng hơi gợn tí, lá khẽ đưa vèo, dường như mọi chuyển động đều vô cùng nhẹ nhàng, thanh thoát. Vận dụng thủ pháp lấy động tả tĩnh Nguyễn Khuyến đã làm nổi bật sự tĩnh lặng tuyệt đối của không gian, của cảnh vật. Phải là không gian vô cùng yên tĩnh thì thi nhân mới có thể cảm nhận tiếng động thật khẽ, thật êm của cảnh vật, dù là sóng có gợn hay chiếc lá khẽ đưa, bằng giác quan tinh tế, nhạy cảm Nguyễn Khuyến đã nắm trọn từng khoảnh khắc của thiên nhiên. Sắc vàng nếu như ở những bài thơ khác chính là sắc màu chủ đạo, là điểm nhấn để gợi nhắc mùa thu thì trong câu thơ của Nguyễn Khuyến sắc vàng ấy cũng như bao sắc màu khác trong bức tranh: xanh của trời, trong veo của nước,… nó chỉ góp phần tạo nên đường nét hài hòa cho bức tranh, tuyệt nhiên không gợi cảm giác buồn bã của tâm trạng, hay héo úa của cảnh vật.
Không chỉ vậy, cái hồn dân dã, vẻ đẹp mùa thu của làng quê Bắc Bộ còn được gợi lên từ những ngõ trúc quanh co:
“Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo”
Không gian được mở rộng ở chiều cao, tác giả hướng ánh mắt lên bầu trời để cảm nhận được cái “xanh ngắt” của bầu trời, và rất tự nhiên thu tầm nhìn về với ngõ trúc quanh co. Không gian mùa thu vô cùng tĩnh lặng. Mọi chuyển động đều quá nhẹ nhàng, êm ái không đủ để gợi nên âm thanh, duy chỉ có tiếng động của tiếng cá đớp mồi: “Cá đâu khẽ động dưới chân bèo”. Nhưng cái động đó kết hợp với từ “khẽ” lại chỉ càng nhấn mạnh, tô đậm hơn cái yên ắng, tĩnh mịch của cảnh vật. Với nghệ thuật lấy động tả tĩnh, Nguyễn Khuyến đã cho thấy cái thanh tĩnh tuyệt đối của làng quê Việt Nam trong cảnh thu thanh bình, dịu nhẹ.
Bài thơ có nhan đề là Câu cá mùa thu, nói về chuyện câu cá mà thực lại không phải vậy. Mượn chuyện câu cá để cảm nhận hết trời thu, cảnh thu vào cõi lòng mình. Hẳn Nguyễn Khuyến phải có tâm hồn thanh tĩnh đến tuyệt đối mới có thể có nhận đầy đủ vẻ đẹp của mùa thu: trong veo, cái hơi gợn tí của nước, độ rơi khẽ khàng của lá. Đặc biệt sự tĩnh lặng trong tâm hồn thi nhân được gợi lên một cách sâu sắc từ tiếng động duy nhất trong bài thơ là tiếng cá đớp mồi dưới chân bèo. Sự tĩnh lặng trong cảnh vật gợi cho người đọc cảm nhận về sự cô đơn, uẩn khúc trong tâm hồn nhà thơ. Trong bài các gam màu lạnh xuất hiện nhiều: trong veo, xanh ngắt,… dường như cái lạnh của thu thấm vào tâm hồn nhà thơ hay chính tâm hồn cô đơn của tác giả lan tỏa sang cảnh vật. Đặt trong bối cảnh đất nước đầy biến thiên lúc bấy giờ, có thể thấy bài thơ thể hiện tâm trạng đau buồn của Nguyễn Khuyến trước hiện tình đất nước đầy đau thương.
Bài thơ thể hiện tài năng sử dụng ngôn ngữ bậc thầy của Nguyễn Khuyến. Tiếng Việt trong sáng, giản dị nhưng lại diễn tả được tất cả những gì tinh tế, đẹp đẽ nhất của cảnh vật, diễn tả được tâm trạng và tấm lòng của nhà thơ. Gieo vần “eo” – từ vận tài tình góp phần miêu tả không gian nhỏ hẹp và tâm trạng đầy uẩn khúc của tác giả. Nghệ thuật lấy động tả tĩnh gợi lên cái tĩnh lặng tuyệt đối của thiên nhiên.
Bài thơ Câu cá mùa thu với ngôn ngữ bậc thầy không chỉ cho người đọc thấy tài năng của Nguyễn Khuyến trong việc dùng từ. Mà đằng sau đó ta còn cảm nhận được một tâm hồn gắn bó tha thiết với thiên nhiên, đất nước, tấm lòng yêu nước thầm lặng nhưng không kém phần sâu nặng.
- Giới thiệu tác giả: Nêu vài nét nổi bật về tác giả và vị trí của họ trong nền văn học.
- Giới thiệu tác phẩm: Nêu tên bài thơ, thể thơ và hoàn cảnh ra đời (nếu có).
- Nêu nhận định khái quát: Tóm tắt giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, đây chính là "luận điểm" chính của bài viết.
Đây là phần trọng tâm, cần chia thành các luận điểm nhỏ để phân tích chi tiết.
- Phân tích nội dung:
- Bố cục: Phân tích từng phần của bài thơ theo bố cục truyền thống của thơ Đường luật.
- Thất ngôn bát cú: Khai (câu 1), Thừa (câu 2), Thực (câu 3-4), Luận (câu 5-6), Kết (câu 7-8).
- Tứ tuyệt: Khởi (câu 1), Thừa (câu 2), Chuyển (câu 3), Hợp (câu 4).
- Hình tượng thơ: Phân tích các hình ảnh, biểu tượng tiêu biểu được sử dụng trong bài.
- Cảm xúc, tâm trạng: Phân tích tình cảm, tư tưởng của tác giả được bộc lộ qua bài thơ.
- Chủ đề: Khái quát chủ đề tư tưởng mà bài thơ muốn truyền tải.
- Bố cục: Phân tích từng phần của bài thơ theo bố cục truyền thống của thơ Đường luật.
- Phân tích nghệ thuật:
- Thi luật: Nêu nhận xét về luật bằng trắc, niêm, vần, đối của thể thơ Đường luật.
- Ngôn ngữ: Phân tích cách sử dụng từ ngữ, giọng điệu, nhịp điệu.
- Biện pháp tu từ: Phân tích các biện pháp nghệ thuật như so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, điệp ngữ, đối... và tác dụng của chúng.
- Khẳng định lại giá trị: Tổng kết lại giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.
- Nêu cảm nhận cá nhân: Bày tỏ ấn tượng và cảm xúc của bản thân về bài thơ.
- Liên hệ mở rộng: Đưa ra nhận định hoặc ý nghĩa sâu sắc hơn mà tác phẩm mang lại.
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo.
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.
Tựa gối ôm cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.
Quảng cáo
Bạn cần hỏi gì?
Câu hỏi hot cùng chủ đề
-
105523
-
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
81595 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
77538 -
Hỏi từ APP VIETJACK62205
-
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
48887 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
38516
