Quảng cáo
3 câu trả lời 342
Mở bài:
Hồ Chí Minh không chỉ là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam mà còn là một nhà thơ lớn với tâm hồn nghệ sĩ và tình yêu thiên nhiên sâu sắc. Trong hoàn cảnh ngục tù khắc nghiệt của Trung Hoa, Người vẫn sáng tác nên những vần thơ tuyệt đẹp. Bài “Ngắm trăng” là một trong những tác phẩm tiêu biểu, thể hiện tâm hồn tự do, yêu đời và phong thái ung dung của Bác giữa chốn lao tù.
Thân bài:
1. Hoàn cảnh sáng tác và thể thơ:
Bài thơ được viết trong tập “Nhật ký trong tù”, theo thể thất ngôn tứ tuyệt Đường luật (mỗi câu 7 chữ, gồm 4 câu, tuân thủ luật đối, vần, niêm).
Ngục trung vô tửu diệc vô hoa,
Đối thử lương tiêu nại nhược hà?
Nhân hướng song tiền khan minh nguyệt,
Nguyệt tòng song khích khán thi gia.
(Dịch nghĩa:
Trong ngục không rượu cũng không hoa,
Cảnh đẹp đêm nay biết làm sao?
Người ngắm trăng soi qua cửa sổ,
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ.)
2. Phân tích nội dung và nghệ thuật:
Hai câu đầu:
“Ngục trung vô tửu diệc vô hoa,
Đối thử lương tiêu nại nhược hà?”
→ Trong ngục tối tăm, thiếu rượu, thiếu hoa – hai thú vui thường có của tao nhân mặc khách – Bác Hồ vẫn hướng tâm hồn mình ra ngoài cảnh vật. Câu hỏi “biết làm sao?” không phải là than thở, mà là một cách bộc lộ khát vọng tự do và tình yêu với cái đẹp, dù ở hoàn cảnh tù đày.
Hai câu sau:
“Nhân hướng song tiền khan minh nguyệt,
Nguyệt tòng song khích khán thi gia.”
→ Hình ảnh thơ thật đẹp: người và trăng giao hòa, soi ngắm lẫn nhau. Dù bị giam cầm, tâm hồn thi nhân vẫn tự do, vượt ra ngoài song sắt để hòa cùng thiên nhiên. Đây là biểu hiện cao đẹp của phong thái ung dung, tự tại, cũng là tinh thần lạc quan, yêu đời của Bác Hồ.
→ Nghệ thuật:
Thể thơ Đường luật được sử dụng nhuần nhuyễn, đối xứng và hàm súc.
Hình ảnh giản dị mà gợi cảm, ngôn từ cô đọng, nhạc điệu nhẹ nhàng.
Cách nhân hóa “trăng nhìn thi nhân” làm nổi bật mối giao cảm giữa con người và thiên nhiên.
Kết bài:
Bài thơ “Ngắm trăng” không chỉ thể hiện vẻ đẹp tâm hồn Hồ Chí Minh – yêu thiên nhiên, yêu tự do – mà còn cho thấy bản lĩnh thép, tinh thần lạc quan trong mọi hoàn cảnh. Dù bị giam trong ngục tù, Người vẫn giữ được phong thái của một thi nhân ung dung và tự do trong tâm hồn. Đây chính là nét đẹp vĩnh hằng trong thơ Bác và trong con người Hồ Chí Minh.
Bà Huyện Thanh Quan là một nữ thi sĩ nổi tiếng trong nền văn học trung đại của nước ta. “Qua Đèo Ngang” là một tác phẩm rất tiêu biểu cho phong cách thơ của bà. Bài thơ đã khắc họa khung cảnh thiên nhiên Đèo Ngang thoáng đãng mà heo hút, thấp thoáng sự sống con người nhưng vẫn còn hoang sơ. Đồng thời nhà thơ còn qua đó gửi gắm nỗi nhớ nước thương nhà.
Tác giả đã khắc họa khung cảnh thiên nhiên nơi Đèo Ngang trong một buổi chiều tà:
“Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa”
Cụm từ “bóng xế tà” gợi ra thời điểm kết thúc của một ngày. Nhà thơ đang một mình đứng trước nơi đèo Ngang. Tiếp đến câu thơ “Cỏ cây chen đá, lá chen hoa” là hình ảnh ước lệ mang tính biểu tượng, khắc họa khung cảnh thiên nhiên đèo Ngang. Việc sử dụng điệp từ “chen” kết hợp với hình ảnh “đá, lá, hoa” thật tinh tế. Vẻ đẹp thiên nhiên của đèo Ngang tuy hoang sơ nhưng lại tràn đầy sức sống. Khung cảnh thiên nhiên Đèo Ngang được nhà thơ khắc họa chỉ bằng vài nét nhưng lại hiện ra đầy chân thực và sinh động.
Và không thể thiếu trong bức tranh thiên nhiên đó là hình ảnh con người. Nghệ thuật đảo ngữ “lom khom - tiều vài chú” cho thấy hình ảnh vài chú tiều với dáng đứng lom khom dưới chân núi. Và “lác đác - chợ mấy nhà” gợi ra hình ảnh vài căn nhà nhỏ bé thưa thớt, lác đác bên sông. Nhà thơ muốn nhấn mạnh vào sự nhỏ bé của con người trước thiên nhiên rộng lớn. Con người chỉ nằm là một chấm buồn lặng lẽ giữa một thiên nhiên rộng lớn. Thiên nhiên mới là trung tâm trong bức đèo Ngang
Thiên nhiên càng cô quạnh, tâm trạng của tác giả càng cô đơn. Điều đó được bộc lộ ở những câu thơ tiếp theo:
“Nhớ nước, đau lòng, con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia”
Hình ảnh “con quốc quốc” và “cái gia gia” không chỉ là hình ảnh thực về hai loại chim (chim đỗ quyên, chim đa đa). Việc sử dụng thủ pháp lấy động tả tĩnh: tiếng kêu “quốc quốc”, “đa đa” để qua đó bộc lộ nỗi lòng nhớ thương của mình với đất nước, quê hương. Đọc đến đây, chúng ta dường như có thể lắng nghe được tiếng kêu khắc khoải, da diết đang vang lên trong vô vọng.
Câu thơ “Dừng chân đứng lại, trời, non, nước” khắc họa hình ảnh nhà thơ một mình đứng tại nơi Đèo Ngang, đưa mắt nhìn ra xa cũng chỉ thấy thiên nhiên rộng lớn phía trước (có bầu trời, có núi non, dòng sông). Sự cô đơn của nhà thơ: “một mảnh tình riêng” - tình cảm riêng tư của nhà thơ không có ai để chia sẻ:
“Dừng chân đứng lại trời, non, nước
Một mảnh tình riêng, ta với ta"
Trong thơ Nguyễn Khuyến cũng từng sử dụng cụm từ “ta với ta”:
“Đầu trò tiếp khách trầu không có
Bác đến chơi đây ta với ta”
Trong “Bạn đến chơi nhà, từ “ta” đầu tiên chỉ chính nhà thơ - chủ nhà, còn từ “ta” thứ hai chỉ người bạn - khách đến chơi. Từ “với” thể hiện mối quan hệ song hành, gắn bó dường như không còn khoảng cách. Qua đó thể hiện tình bạn gắn bó tri âm tri kỷ của nhà thơ. Còn trong thơ Bà Huyện Thanh Quan, cụm từ “ta với ta” ở đây đều chỉ nhà thơ, lúc này bà chỉ có một mình đối diện với chính mình, cô đơn và lẻ loi. Sự cô đơn ấy dường như chẳng thể có ai cùng chia sẻ.
Như vậy, Qua đèo Ngang đã thể hiện được tâm trạng của Bà Huyện Thanh Quan trước khung cảnh đèo Ngang hoang sơ. Bài thơ chứa đựng những tình cảm, ý nghĩa sâu sắc.
"Qua Đèo Ngang" – Bà Huyện Thanh Quan
(bài văn được viết theo bố cục mở bài – thân bài – kết bài)
BÀI VĂN MẪU: PHÂN TÍCH BÀI THƠ “QUA ĐÈO NGANG”
Bà Huyện Thanh Quan là một trong những nhà thơ tiêu biểu của văn học trung đại Việt Nam, nổi tiếng với giọng thơ trang nhã, sâu lắng và đầy hoài cổ. Trong số những tác phẩm của bà, “Qua Đèo Ngang” là bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật xuất sắc, thể hiện tâm trạng cô đơn, nỗi nhớ nước thương nhà của một người phụ nữ có học thức, sống trong thời đại nhiều biến động.
Mở đầu bài thơ, khung cảnh Đèo Ngang hiện lên trong buổi chiều tà:
Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.
Chỉ với hai câu đề, tác giả đã phác họa bức tranh thiên nhiên hoang sơ, tĩnh lặng mà cũng rất sinh động. Cảnh vật được cảm nhận bằng tâm trạng buồn bã, đơn côi khi “bóng xế tà” – hình ảnh thường gợi nỗi hoài niệm và cô liêu.
Đến hai câu thực:
Lom khom dưới núi, tiều vài chú,
Lác đác bên sông, chợ mấy nhà.
Không gian như mở rộng ra, có sự hiện diện của con người, nhưng lại càng làm nổi bật sự vắng vẻ, thưa thớt của chốn hoang sơ. Từ láy “lom khom”, “lác đác” vừa miêu tả hình ảnh, vừa diễn tả nhịp sống chậm rãi, rời rạc, khiến nỗi buồn như thấm sâu hơn.
Hai câu luận là điểm nhấn tâm trạng:
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.
Sử dụng điển cố điển tích (tiếng chim quốc, chim gia gia), tác giả kín đáo bộc lộ nỗi niềm yêu nước, thương nhà. Đây không chỉ là nỗi buồn riêng, mà còn là tâm sự mang màu sắc thời đại – khi đất nước trải qua biến động, lòng người rối ren.
Cuối cùng là hai câu kết:
Dừng chân đứng lại trời non nước,
Một mảnh tình riêng ta với ta.
Hình ảnh người lữ khách đứng lại giữa trời mây non nước bao la, chỉ có “ta với ta” – một mình đối diện với chính mình, cô đơn, lạc lõng giữa thiên nhiên rộng lớn. Đây là sự cô độc đến tận cùng của người mang nặng tâm sự trong lòng.
Qua bài thơ “Qua Đèo Ngang”, Bà Huyện Thanh Quan không chỉ thể hiện tài năng vận dụng thể thơ Đường luật thuần thục, mà còn truyền tải tinh tế cảm xúc của một con người có tâm hồn nhạy cảm, yêu quê hương, đất nước, mang nặng hoài niệm và trách nhiệm với thời cuộc. Bài thơ là tiếng nói của tâm hồn cao đẹp giữa một thời đại nhiều biến động, để lại dư âm sâu sắc trong lòng người đọc.
Quảng cáo
Bạn cần hỏi gì?
Câu hỏi hot cùng chủ đề
-
105422
-
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
81488 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
77302 -
Hỏi từ APP VIETJACK62124
-
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
48782 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
38445
