Quảng cáo
2 câu trả lời 463
Diện tích toàn phần bề mặt của một khối lập phương A có cạnh là 4 cm được tính bằng công thức `S = 6a^2`, trong đó a là độ dài cạnh khối lập phương A.
Áp dụng công thức trên, ta có:
`S(A) = 6 x (4)^2 = 6 x 16 = 96 cm^2`
Giả sử ta cắt khối lập phương A thành các phần B bằng nhau. Mỗi phần B là một khối lập phương có cạnh là 2 cm. Ta có tổng cộng 8 phần B.
Để tính diện tích toàn phần bề mặt của mỗi phần B, ta cần biết cạnh của phần B. Trong trường hợp này, cạnh của phần B là 2 cm.
Áp dụng công thức `S = 6a^2`, ta có: `S(B) = 6 × (2)^2 = 6 × 4 = 24 cm^2`
Do có tổng cộng 8 phần B, nên diện tích toàn phần bề mặt của tất cả các phần B sẽ là: S(tổng)
`= 8 × S(B) = 8 × 24 = 192 cm^2`
Từ đó, ta có thể rút ra kết luận như sau:
- Diện tích toàn phần bề mặt của khối lập phương A là `96 cm^2.`
- Diện tích toàn phần bề mặt của tất cả các phần B sau khi cắt khối lập phương A là `192 cm^2.`
Như vậy, diện tích toàn phần bề mặt của khối lập phương A là gấp đôi diện tích toàn phần bề mặt của các phần B sau khi khối A được cắt thành các phần bằng nhau.
Áp dụng công thức tính diện tích toàn phần hình lập phương:
Stoàn phần = 6 × s2
Trong đó: s là độ dài 1 cạnh của hình lập phương.
- Diện tích toàn phần bề mặt của A là:
S toàn phần A = 6 × 42 = 96 (cm2).
- Diện tích toàn phần bề mặt của B (gồm 8 khối lập phương nhỏ) là:
S toàn phần B = 8 × 6 × 22 = 192 (cm2).
Kết luận: Nếu chia một vật thành nhiều phần nhỏ hơn thì tổng diện tích bề mặt sẽ tăng lên. Diện tích bề mặt tiếp xúc càng lớn, tốc độ phản ứng càng nhanh.
Quảng cáo
Bạn cần hỏi gì?
Câu hỏi hot cùng chủ đề
-
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
3999 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
3698 -
3072
-
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
1421
