Quảng cáo
4 câu trả lời 829
Nếu được chọn một trong những truyện ngắn viết vầ người nông dân trong xã hội cũ thì không thể quên truyện ngắn Làng của nhà văn Kim Lân. Tác phẩm lại được viết và in năm 1948, ngay từ mới khi ra mắt bạn đọc thì truyện cũng nhanh chóng được khẳng định vì nó thể hiện thành công một tình cảm lớn lao của dân tộc đồng thời cũng đã thể hiện được tình yêu nước, thông qua một con người cụ thể, một người nông dân với bản chất truyền thống và hơn hết ở người nông dân đó lại có được những chuyển biến mới của họ ngay trong thờ kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.
Người đọc cũng có thể cảm nhận thấy được chính truyện ngắn “Làng” như cũng biểu hiện một tình cảm cao đẹp của toàn dân tộc, biểu hiện được chính tình cảm quê hương đất nước. Thế rồi ta cũng lại cảm nhận được cũng chính với người nông dân thời đại cách mạng và kháng chiến thì tình yêu làng xóm quê hương sâu sắc dường như cũng đã lại hoà nhập trong tình yêu nước, tinh thần kháng chiến. Tình cảm đó vừa có tính truyền thống vừa có chuyển biến mới.
Có thể nhận thấy được chính thành công của Kim Lân là đã di
“Làng” là một tác phẩm đặc sắc của Kim Lân trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. tác phẩm đã thể hiện thành công hình ảnh của người nông dân cách mạng đặc biệt là những chuyển biến mới mẻ trong tình cảm của họ đã được Kim Lân thể hiện một cách rõ nét qua nhân vật ông Hai.
Ông Hai trong tác phẩm là một người nông dân bình dị, chăm chỉ, chân chất mộc mạc, vì vậy là tình yêu lành đối với họ dường như không thể thiếu. Cũng giống như bao người, ông Hai cũng có một quê hương để yêu thương, gắn bó và làng Chợ Dầu là niềm tự hào, kiêu hãnh của ông. Ông hay khoe làm của mình có một thông tin tuyên truyền sáng sủa, rộng rãi nhất vùng, đường làng lát đá xanh trời mưa trời gió tha hồ đi khắp nơi , bùn không dính đến gót chân. Ông còn khoe làng là cái “Sinh phần” của viên tổng đốc làng, ông có vẻ hãnh diện cho cái Sinh phần ấy lắm.Tuy yêu làng nhưng ông lại phải rời làng đi tản cư, nhưng không vì thế mà tình yêu của ông với làng bị vơi cạn. Ở nơi tản cư, ông thường hay nhớ về làng làng, nhớ về những ngày làm việc cùng anh em. Ông vẫn dõi theo làng, dõi theo tình hình chiến sự. Ông vui sướng trước những tin nghe được từ phòng thông tin , “ruột gan ông cứ múa cả lên”. Như vậy tình cảm yêu làng của ông Hai đã có sự biến chuyển, ông Hai vẫn yêu làng, vẫn tự hào về làng nhưng tình yêu ấy còn gắn liền với tình yêu nước tình yêu kháng chiến. Để làm nổi bật hơn những biến chuyển trong tình cảm của người nông dân ăn, Kim Lân đã đặt nhân vật vào trong một tình huống bất ngờ, gây gắt: ông hai nghe được tin từ những người tản cư rằng làng chợ Dầu của ông theo Tây. Khi nghe được cái tin ấy, ông Hai sững sờ, xấu hổ, “có ông lão nghẹn ắng lại, da mặt tê rân rân, ông lặng đi tưởng như không thở được”.
Từ đỉnh cao của niềm vui, niềm tin, ông Hai rơi xuống vực thẳm của sự đau đớn, tủi hổ vì cái tin ấy quá bất ngờ. Anh không dám tin còn hỏi lại để xác định rõ, nhưng rồi sau khi nghe người ta bàn tán khẳng định niềm tin làng của ông Hai đã sụp đổ. Từ lúc ấy trong ông chỉ còn cái tin dữ ấy, nó cứ ám ảnh đeo bám ông khiến ông chỉ còn biết “cúi gằm mặt xuống mà đi”. Về đến nhà ông chỉ biết nằm vật ra giường nhìn những con chơi ngoài sân mà “nước mắt ông cứ ứa ra”. Thấy thương cho chính mình và các con con gì bị mang danh là tên bán nước. Mấy ngày sau đó, ông chẳng đi đâu cả, chỉ quanh quẩn ở nhà nghe ngóng tình hình bên ngoài,dăm ba câu bàn 8 của người ngoài cũng làm ông chột dạ. Trong lúc ấy khi ông bị đặt vào một tình huống bế tắc , ông không biết đi đâu cả. Nếu ông về làng bây giờ đồng nghĩa với việc theo giặc phản bội lại kháng chiến, ở lại thì cũng không xong vì mụ chủ nhà đã có tiếng của đuổi , mà không về làng thì giá đình ông biết đi đâu mà đi bởi không đâu người ta chứa chấp những kẻ việt gian bán nước. Đặt nhân vật vào tình huống này Kim Lân đã thể hiện rõ tình cảm của người nông dân cách mạng qua những dòng bộc lộ nội tâm. Nếu như trước đây tình yêu làng luôn hoà vào tình yêu nước, yêu kháng chiến thì nay ông Hai phải lựa chọn giữa một bên là về làng với một bên là ở lại chiến đấu vì Tổ quốc.
Nhưng rồi ông cũng quyết định “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù” Tình cảm cá nhân, tình yêu làm dù lớn lao thế nào cũng không thể lấn áp đi tình yêu nước đó là nét đẹp của người nông dân Việt Nam trong thời kì ấy. Để vơi đi nỗi nhớ làng, ông Hai trò chuyện cùng thằng con út, ông khẳng định lại với con tình yêu làng quê và sự thủy chung với đất nước, với Cụ Hồ sáng soi. Trong lúc ông Hai đang phân vân ấy thì cái tin làng chợ Dầu theo Tây được cải chính. Nỗi đau đớn của ông trong mấy ngày qua tan biến đi, ông Hai vui mừng phấn khởi chạy khắp nơi khoe cái tin cải chính ấy, ông còn khoe cả tính nhà mình bị giặc đốt cháy nữa.
Như vậy tình yêu làng tình yêu nước của ông Hai đã xoá tan cả đi nỗi mất nhà mất cửa chỉ còn niềm vui sướng hân hoan trước cái tin cải tổ ấy. Ông Hai từ một người nông dân bình thường giản dị chăm chỉ và yêu làng yêu quê đã trở thành một công dân yêu nước, hai tình yêu ấy luôn sống hành hoà quyện vào nhau trong trái tim của những người nông dân Việt lúc bấy giờ.
Kim Lân là nhà văn rất am hiểu cuộc sống của người nông dân ở nông thôn miền Bắc. Tất cả các truyện của ông đều xoay quanh cảnh ngộ và sinh hoạt của người nông dân. Truyện Làng được Kim Lân sáng tác trong thời kì kháng chiến chống Pháp và đăng trên tạp chí văn nghệ năm 1948. Nhân vật chính của truyện là hình ảnh tiêu biểu và chân thực của người nông dân trong mới ngày đầu tiếp xúc với cách mạng, với lòng yêu làng, yêu nước sâu sắc, với sự hồ hởi say mê, tin yêu, chung thuỷ với kháng chiến, với Bác Hồ.
Ông Hai nhân vật chính trong truyện là một người yêu làng, yêu nước tình yêu làng của ông có những nét đặc sắc, riêng biệt được thể hiện thành một đức tính đáng quý.
Là một nông dân suốt cuộc đời sống ở quê hương, gắn bó máu thịt với từng con đường, từng nếp nhà, thửa ruộng, từng ngọn cỏ, cành cây và biết bao người ruột thịt, xóm giềng, họ hàng gần xa, vậy mà giờ đây vì giặc ngoại xâm, ông 2 phải xa rời quê hương đi tản cư, sống nhờ nơi đất khách quê người. Do đó lòng ông đau đáu nhớ quê. Ban ngày lo bận việc sản xuất, ổn định cuộc sống, chiều rồi buổi tối ông hai lại sang hàng xóm giãi bày nỗi nhớ của mình. Trong câu chuyện, ông không ngớt lời khoe những cái đẹp, điều hay ở quê hương mình. Làng chợ Dầu quê ông đẹp lắm, đường là phong cảnh sạch sẽ, cái cổng làng rộng như cổng thành… Ông khoe cả cái “sinh phần” – lăng mộ – của viên tổng đốc người làng, mặc dầu đó là một chứng tích đau khổ của dân làng, trong đó có ông. Đặc biệt là ông hai khoái nhất khoe và kể nhiều nhất là những ngày đầu Cách mạng tháng 8. Quê hương được giải phóng, thoát khỏi ách cường hào phong kiến và lũ tay sai thực dân. Dân làng ông bắt đầu cuộc sống mới. Đêm đêm rậm rịch tiếng bước chân của đoàn du kích tập quân sự, sáng, chiều râm ran tiếng trẻ em học bài… lại cả những tiếng hát của thanh niên ngân vang trong những buổi cả làng bàn việc nước, việc dân… nghe những chuyện ấy, mọi người đều thông cảm với lòng nhớ quê da diết của ông. Không chỉ nhớ mà ông còn luôn tự hào, cho rằng làng chợ Dầu của ông đẹp nhất nhì thiên hạ. Đó là một người yêu quê hương tha thiết bằng một tình cảm tự nhiên, hồn nhiên. Tình cảm đó bắt nguồn từ những kỉ niệm trong cuộc sống hằng ngày, từ những sự vật, con người gắn bó hàng ngày … Tình cảm đó thuần phác và trong sáng biết bao.
Khi nghe tin làng chợ dầu theo Tây ông Hai “cổ nghẹn đắng lại, da mặt tê rân rân”. Trước hết là sự xót xa của ông về làng mình, sự phản bội của nơi chôn rau cắt rốn của mình. Ông lão tủi hổ, bàng hoàng trước sự việc đó. Tình yêu làng vẫn thắm thiết trong ông, làng chợ Dầu vẫn là nơi ông gửi gắm sinh mệnh, danh dự và niềm hãnh diện, tự hào. Vậy mà bây giờ… ông lão nghĩ tới việc trở về làng. Song ý nghĩ đó ông gạt phắt đi. Trong sự tuyệt vọng, đau khổ này, lối thoát về làng chợ Dầu loé lên như một tia hi vọng rồi lại tắt ngấm. Từ lâu ông yêu làng ông, mong được trở về với làng ông song trong ông tình yêu nước mạnh hơn, thiêng liêng hơn: không vì làng mà bỏ nước, bỏ kháng chiến. Giữa sự giằng co trong tâm hồn, ông Hai đã thốt lên đầy đau đớn song đầy quyết tâm: “Làng thì yêu thật đấy, nhưng làng theo Tây thì phải thù. Anh em đồng chí biết cho bố con ông. Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông, cái lòng bố con ông là như thế đấy, có bao giờ dám đơn sai. Chết thì bao giờ dám đơn sai. Khi ông tâm sự với con, ông Hai muốn bảo con nhớ câu “nhà ta ở làng chợ Dầu”. Đồng thời ông nhắc con – cũng là tự nhắc mình “Ủng hộ Hồ Chí Minh”. Tình quê và lòng yêu nước của những người nông dân ấy rất sâu nặng và thiêng liêng biết bao. Ông Hai đã trải qua những buồn vui, đau khổ, những tự hào, chua chát, những nguyện vọng và hi vọng… hài hoà, gắn bó giữa quê hương và tổ quốc.
Trong cuộc kháng chiến gian khổ ấy thì cách mạng đã đổi đời cho những người nhân dân như ông, ông nguyện đi theo và trung thành với cách mạng. Gạt sang một bên tình cảm riêng của mình mà đi theo kháng chiến, không chịu theo Tây, sống với Tây. Tình cảm gắn bó với cách mạng với Bác Hồ của những người nông dân như ông nó chất phác, mộc mạc, sâu sắc, nó xuất phát từ đáy lòng, máu thịt.
Thấy được tình yêu làng, yêu nước của ông Hai, ta hiểu và cũng mừng cho sự hớn hở của ông Hai khi nghe tin làng mình theo Tây được cải chính. Tình yêu làng, tình yêu nước lại trở về gắn bó với nhau ngày càng sâu sắc, thắm thiết hơn trong lòng người nông dân chân chất này. Từ ngày ông Hai không phải dằn vặt trong sự lựa chọn khắc nghiệt giữa làng và nước, cái vui của ông Hai là cái vui của một con người yêu quê hương, đất nước sâu sắc. Niềm vui khiến ông lão như trẻ con “lật đật, bô bô” kể về làng mình bị đốt nhẵn. Nhà của ông bị cháy rụi mà ông không để í, không đau buồn, ông chỉ biết rằng lúc này ông làm kháng chiến và ông lão bây giờ có thể tự hào, hãnh diện ngồi kể về cái làng chợ Dầu kháng chiến của mình.
Vốn là những con người chân thực, chất phác, những ngày đầu tiếp xúc với cách mạng họ vẫn có sự bỡ ngỡ và lạ lẫm ban đầu. Cảm giác ấy nhanh chóng tan đi, người ông dân đón nhận cách mạng với một tình cảm chân thành một lòng hăm hở. Cuộc đời nông dân Việt Nam rẽ sang một bước ngoặt mới tươi sáng hơn. Họ nô nức, háo hức hoà chung vào phong trào cách mạng cả nước, họ hăng hái cầm súng bảo vệ quê hương. Cách mạng trở thành một phần máu thịt của người nông dân, có những người như ông hai day dứt, tủi hổ, khổ sợ khi mình bị hiểu lầm là không trung thành với cách mạng song vẫn không bỏ cách mạng. Đó là lòng trung thành, là tình cảm sâu sắc, bền chặt mà người nông dân dành cho cách mạng. Cách mạng Tháng Tám đã thổi bùng ngọn lửa đấu tranh trong lòng họ. Người nông dân đứng lên kiên quyết giữ làng, giữ nước, đâu còn là hình ảnh con người khổ nhục, khiếp sợ từ tên đầy tớ nhà giàu. Họ – những người như ông Hai đứng lên đào hào, đắp luỹ trực tiếp chống lại quân thù. Lòng yêu nước nồng nàn, sự trung thành với cách mạng tất cả trở thành sức mạnh khiến họ đứng lên bảo vệ quê hương, bảo vệ chính mình. Cách mạng mang đến cho họ cuộc đời mới, họ phải bảo vệ lấy hạnh phúc đó của mình.
Vẻ đẹp tâm hồn của ông Hai làng Chợ Dầu tiêu biểu cho những người nông dân Việt Nam tuy trình độ văn hoá thấp nhưng đã có ý thức giác ngộ cao, tha thiết yêu quê hương, Tổ quốc. Nói cách khác, quê hương – Tổ quốc đối với mỗi người Việt Nam chúng ta luôn gắn bó trong niềm tự hào nồng thắm! Sự mở rộng và thống nhất tình yêu quê hương trong tình yêu đất nước là nét mới trong nhận thức và tình cảm của quần chúng cách mạng mà văn học thời kháng chiến chống pháp đã trú trọng làm nổi bật. Truyện ngắn làng của Kim Lân là một trong những thành công đáng quý ấy!
Quảng cáo
Bạn cần hỏi gì?
Câu hỏi hot cùng chủ đề
-
254157
-
81152
-
Hỏi từ APP VIETJACK54753
-
48717
-
45393
