Phân tích ý nghĩa trào phúng của nghệ thuật sử dụng phép đối, nghệ thuật sử dụng ngôn từ ở hai câu thực và hai câu luận Và giá trị nhân đạo của bài thơ TỰ TRÀO
TỰ TRÀO
Cũng chẳng giàu mà cũng chẳng sang,
Chẳng gầy chẳng béo, chỉ làng nhàng.
Cờ đương dở cuộc không còn nước,
Bạc chửa thâu canh đã chạy làng.
Mở miệng nói ra gàn bát sách,
Mềm môi chén mãi tít cung thang.
Nghĩ mình lại gớm cho mình nhỉ,
Thế cũng bia xanh, cũng bảng vàng!
(Nguyễn Khuyến Thơ và đời, Nguyễn Khuyến, NXB văn học, 2012, tr .46)
Quảng cáo
2 câu trả lời 107
Bài thơ “Tự trào” của Nguyễn Khuyến là một tác phẩm tiêu biểu cho tiếng cười tự trào sâu sắc, vừa hài hước vừa chua chát. Đặc biệt, hai câu thực và hai câu luận đã thể hiện rõ nghệ thuật trào phúng qua phép đối và cách dùng ngôn từ, đồng thời góp phần làm nổi bật giá trị nhân đạo của bài thơ.
Trước hết, ở hai câu thực:
“Cờ đương dở cuộc không còn nước,
Bạc chửa thâu canh đã chạy làng.”
Tác giả sử dụng phép đối rất chỉnh:
“cờ” đối “bạc”,
“dở cuộc” đối “chửa thâu canh”,
“không còn nước” đối “đã chạy làng”.
Phép đối này tạo nên sự cân xứng về hình thức nhưng lại làm nổi bật nội dung trào phúng: cả “cờ” lẫn “bạc” đều dang dở, thất bại. Những từ ngữ như “không còn nước”, “chạy làng” mang sắc thái dân dã, gợi sự bất lực, bế tắc. Qua đó, nhà thơ tự giễu mình là người không làm nên việc gì, vừa chơi cờ cũng thua, đánh bạc cũng dở. Tiếng cười ở đây mang ý nghĩa tự trào, châm biếm chính bản thân trong cảnh bất lực giữa cuộc đời.
Đến hai câu luận:
“Mở miệng nói ra gàn bát sách,
Mềm môi chén mãi tít cung thang.”
Phép đối tiếp tục được vận dụng:
“mở miệng” đối “mềm môi”,
“nói ra” đối “chén mãi”,
“gàn bát sách” đối “tít cung thang”.
Cách dùng từ ở đây rất độc đáo, mang màu sắc khẩu ngữ như “gàn”, “chén”, “tít”, tạo nên giọng điệu vừa tự nhiên vừa mỉa mai. Nhà thơ tự nhận mình nói năng “gàn dở”, uống rượu thì say sưa vô độ. Như vậy, ông tiếp tục tự hạ thấp mình, phơi bày những thói quen, hạn chế của bản thân. Chính sự tự ý thức và dám cười vào chính mình đã tạo nên nét trào phúng đặc sắc.
Qua nghệ thuật đối và ngôn từ ở hai cặp câu này, ta thấy rõ tiếng cười tự trào không nhằm hạ thấp con người mà là để nhìn thẳng vào sự thật, bộc lộ nỗi chán chường của một kẻ sĩ trong hoàn cảnh xã hội bế tắc. Đó là tiếng cười “ra nước mắt”, ẩn chứa nỗi buồn và sự bất lực trước thời cuộc.
Từ đó, bài thơ thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc. Trước hết, đó là sự trân trọng con người cá nhân, khi nhà thơ dám nhìn nhận những hạn chế của mình một cách chân thực. Đồng thời, qua tiếng cười tự trào, tác giả cũng bộc lộ nỗi đau của một trí thức không tìm được chỗ đứng, qua đó gián tiếp phê phán xã hội bất công, làm tha hóa con người. Hơn nữa, bài thơ còn thể hiện tấm lòng tự trọng, nhân cách trong sạch của nhà thơ: dù tự giễu mình nhưng ẩn sâu vẫn là một con người có ý thức về giá trị bản thân và khát khao được sống có ích.
Tóm lại, nghệ thuật sử dụng phép đối và ngôn từ trong hai câu thực, hai câu luận đã góp phần làm nổi bật tiếng cười trào phúng độc đáo của bài thơ “Tự trào”. Qua đó, Nguyễn Khuyến không chỉ thể hiện tài năng nghệ thuật mà còn gửi gắm những suy ngẫm sâu sắc về con người và cuộc đời, tạo nên giá trị nhân đạo bền vững cho tác phẩm.
Trong hai cặp câu thực và câu luận, Nguyễn Khuyến đã sử dụng phép đối rất chỉnh để tạo ra tiếng cười tự trào (tự cười mình):
Câu thực (Đối về cảnh ngộ):"Cờ đương dở cuộc không còn nước / Bạc chưa thâu canh đã chạy làng"
Phép đối: "Cờ đương dở cuộc" đối với "Bạc chưa thâu canh"; "không còn nước" đối với "đã chạy làng".
Ý nghĩa: Tác giả mượn chuyện cờ bạc (những thú vui thông thường) để nói về sự bế tắc của bản thân trước thời cuộc. Ông tự cười mình là người thua cuộc, bất lực, không còn phương kế ("hết nước") và phải rút lui sớm ("chạy làng") khi chưa làm xong bổn phận với đời.
Câu luận (Đối về hành động/thói quen):"Mở miệng nói ra gàn bát sách / Mềm môi chén mãi tít cung thang"
Phép đối: "Mở miệng" đối với "Mềm môi"; "gàn bát sách" đối với "tít cung thang".
Ý nghĩa: Khắc họa hình ảnh một ông già gàn dở, nói năng lẩm cẩm và ham mê rượu chè. Sự đối lập giữa vẻ ngoài của một nhà nho đức cao trọng vọng với những hành động "gàn", "say" tạo nên tiếng cười mỉa mai, chua chát về sự vô tích sự của bản thân.
2. Ý nghĩa trào phúng của nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ
Ngôn ngữ bình dân, đời thường: Sử dụng những từ ngữ rất gần gũi như "chạy làng", "gàn bát sách", "tít cung thang", "gớm cho mình nhỉ".
Cách nói hạ thấp bản thân: Tác giả không dùng những từ ngữ hoa mỹ để ca ngợi chí khí mà tự nhận mình là kẻ tầm thường ("chẳng giàu", "chẳng sang", "làng nhàng"). Ngôn ngữ này tạo ra một sự đối lập thú vị: dùng cái tầm thường để che giấu một tâm hồn thanh cao, từ đó làm bật lên nỗi đau của một trí thức yêu nước nhưng bất lực.
3. Giá trị nhân đạo của bài thơ
Sự trung thực và tự trọng: Giá trị nhân đạo nằm ở chỗ tác giả dám nhìn thẳng vào sự thật, dám tự phê bình và cười nhạo những khiếm khuyết của mình. Đây là biểu hiện của một nhân cách cao thượng, không chấp nhận sống giả dối.
Nỗi lòng yêu nước thầm kín: Đằng sau tiếng cười tự trào là một nỗi đau thắt lòng vì không giúp gì được cho dân, cho nước trong cảnh lầm than. Ông coi sự "vô tích sự" của mình là một cái lỗi. Đó chính là vẻ đẹp đạo đức, lòng trắc ẩn và tinh thần trách nhiệm của một nhà nho chân chính đối với cuộc đời.
Quảng cáo
Bạn cần hỏi gì?
Câu hỏi hot cùng chủ đề
-
Đã trả lời bởi chuyên gia
28798 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
22199 -
16568
-
Đã trả lời bởi chuyên gia
11578 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
10545 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
8923 -
8169
