Phân tích vẻ đẹp của tình đồng chí, đồng đội trong bài thơ
Đồng chí của nhà thơ Chính Hữu.
Từ đó, hãy liên hệ với hình ảnh người lính trong bài thơ Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật để làm rõ vẻ đẹp của người lính Việt Nam trong thời kì kháng chiến.
Quảng cáo
2 câu trả lời 33
Phân tích vẻ đẹp của tình đồng chí, đồng đội trong bài thơ Đồng chí của Chính Hữu. Liên hệ với hình ảnh người lính trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật để làm rõ vẻ đẹp của người lính Việt Nam trong thời kì kháng chiến.
Mở bài
Trong nền thơ ca kháng chiến Việt Nam, hình ảnh người lính luôn là nguồn cảm hứng lớn của nhiều nhà thơ. Họ không chỉ chiến đấu kiên cường mà còn mang trong mình những tình cảm đẹp đẽ, đặc biệt là tình đồng chí, đồng đội. Bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu đã khắc họa sâu sắc tình cảm thiêng liêng ấy giữa những người lính trong thời kì kháng chiến chống Pháp. Sau này, trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”, Phạm Tiến Duật tiếp tục làm nổi bật vẻ đẹp của người lính thời kháng chiến chống Mỹ với tinh thần lạc quan, gắn bó và giàu tình đồng đội. Qua hai tác phẩm, ta càng hiểu rõ hơn vẻ đẹp cao quý của người lính Việt Nam trong chiến tranh.
1. Vẻ đẹp của tình đồng chí, đồng đội trong bài thơ Đồng chí
Trước hết, tình đồng chí của những người lính bắt nguồn từ sự tương đồng về hoàn cảnh xuất thân.
Những người lính trong bài thơ đều là những người nông dân nghèo, xuất thân từ những miền quê lam lũ:
“Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”
Hai câu thơ gợi lên hình ảnh những vùng quê nghèo khó, khắc nghiệt. Chính hoàn cảnh giống nhau đã khiến họ dễ dàng đồng cảm, thấu hiểu và gắn bó với nhau.
Không chỉ giống nhau về xuất thân, họ còn gặp nhau trong cùng một lí tưởng chiến đấu. Từ những người xa lạ, họ trở thành đồng chí:
“Súng bên súng, đầu sát bên đầu
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ”
Hình ảnh “súng bên súng” thể hiện sự chung mục tiêu chiến đấu, còn “đầu sát bên đầu” gợi sự gần gũi, gắn bó. Đặc biệt, hình ảnh “đêm rét chung chăn” rất giản dị nhưng chứa đựng tình cảm sâu sắc. Trong điều kiện thiếu thốn của chiến tranh, họ chia sẻ với nhau từng tấm chăn, từng hơi ấm, từ đó hình thành tình tri kỉ.
Tất cả được kết tinh trong một câu thơ ngắn gọn nhưng đầy ý nghĩa:
“Đồng chí!”
Câu thơ chỉ có một từ nhưng lại mang sức nặng cảm xúc lớn lao. Đó là sự khẳng định thiêng liêng về tình cảm gắn bó giữa những người lính.
Không chỉ gắn bó trong lí tưởng, họ còn chia sẻ với nhau mọi khó khăn gian khổ của chiến tranh:
“Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cười buốt giá
Chân không giày”
Những hình ảnh chân thực đã cho thấy cuộc sống thiếu thốn của người lính. Tuy vậy, họ vẫn “miệng cười buốt giá”, thể hiện tinh thần lạc quan và sự động viên nhau vượt qua khó khăn.
Đặc biệt, tình đồng chí còn được thể hiện qua sự cảm thông sâu sắc:
“Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”
Chỉ một cái nắm tay thôi nhưng chứa đựng biết bao tình cảm: sự sẻ chia, động viên và niềm tin vào ngày chiến thắng.
Cuối bài thơ là hình ảnh mang tính biểu tượng đẹp:
“Đầu súng trăng treo”
Hình ảnh này vừa tả thực vừa mang ý nghĩa tượng trưng. “Súng” là biểu tượng của chiến tranh, còn “trăng” tượng trưng cho hòa bình và vẻ đẹp lãng mạn. Hai hình ảnh kết hợp với nhau đã thể hiện tâm hồn đẹp đẽ và lí tưởng cao cả của người lính.
2. Liên hệ với hình ảnh người lính trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính
Nếu người lính trong Đồng chí hiện lên với vẻ đẹp mộc mạc và sâu lắng thì trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính, người lính lại mang vẻ đẹp trẻ trung, sôi nổi và đầy tinh thần lạc quan.
Hình ảnh những chiếc xe không kính là một chi tiết rất độc đáo:
“Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi”
Những chiếc xe bị bom đạn phá hủy nhưng người lính vẫn ung dung lái xe ra chiến trường. Điều đó thể hiện tinh thần dũng cảm và coi thường khó khăn.
Dù phải đối mặt với mưa gió, bụi đường và bom đạn, họ vẫn giữ thái độ bình thản:
“Ung dung buồng lái ta ngồi
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng”
Tư thế “ung dung” cho thấy bản lĩnh và sự hiên ngang của người lính.
Đặc biệt, tình đồng đội trong bài thơ cũng rất sâu sắc. Những người lính gặp nhau trên đường ra trận, cùng chia sẻ khó khăn:
“Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới
Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi”
Hình ảnh “bắt tay qua cửa kính vỡ” gợi lên sự gắn bó, thân thiết giữa những người lính. Dù điều kiện chiến tranh khắc nghiệt, họ vẫn dành cho nhau những tình cảm ấm áp.
Không chỉ vậy, họ còn có tinh thần lạc quan và ý chí chiến đấu mạnh mẽ:
“Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước
Chỉ cần trong xe có một trái tim”
Câu thơ cuối chính là lời khẳng định sức mạnh tinh thần của người lính. Chính tình yêu Tổ quốc và lí tưởng chiến đấu đã giúp họ vượt qua mọi khó khăn.
3. Vẻ đẹp chung của người lính Việt Nam trong kháng chiến
Qua hai bài thơ, ta thấy hình ảnh người lính Việt Nam trong thời kì kháng chiến hiện lên với nhiều vẻ đẹp đáng quý:
Tinh thần yêu nước và lí tưởng chiến đấu cao cả.
Tình đồng chí, đồng đội sâu sắc, gắn bó.
Sự dũng cảm, kiên cường trước gian khổ.
Tinh thần lạc quan, yêu đời dù trong hoàn cảnh khắc nghiệt.
Dù ở thời kì chống Pháp hay chống Mỹ, người lính Việt Nam vẫn luôn mang trong mình những phẩm chất cao đẹp ấy.
Kết bài
Tóm lại, bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu đã khắc họa sâu sắc tình đồng chí thiêng liêng giữa những người lính trong kháng chiến chống Pháp. Khi liên hệ với “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật, ta càng thấy rõ hơn vẻ đẹp của người lính Việt Nam: dũng cảm, lạc quan và giàu tình đồng đội. Những hình ảnh ấy không chỉ làm nên giá trị của hai tác phẩm mà còn trở thành biểu tượng đẹp về thế hệ người lính đã hi sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.
Lịch sử nước ta đã đi qua biết bao thăng trầm biến cố. Mỗi lần biến động là mỗi lần dân ta sít gần lại nhau hơn, cùng nhau vì mục đích cao cả chung. Đó là những năm tháng hào hùng, khí thế của dân tộc ta trong cuộc chiến đấu tranh chống Pháp, chống Mỹ vĩ đại. Giữa những đau thương chiến đấu, cuộc chiến còn góp phần đắp xây nên mối quan hệ giữa những người lính với nhau. Cho nên không có gì khó hiểu khi vào năm 1948, tác phẩm “ Đồng Chí” của nhà thơ Chính Hữu lại tạo nên một sự bùng nổ, lan truyền rộng khắp trong giới quân đội. Bài thơ “Đồng chí” ca ngợi tình đồng đội gian khổ có nhau, vào sinh ra tử có nhau của các anh bộ đội Cụ Hồ, những người nông dân yêu nước đi bộ đội đánh giặc trong những năm đầu gian khổ thời chín năm kháng chiến chống Pháp. Chính bài thơ đã khơi dậy những xúc động mạnh mẽ trong lòng nhiều thế hệ:
“Quê hương anh nước mặn đồng chua
…
Đầu súng trăng treo”
Trong bài thơ “Đồng Chí”, Chính Hữu đã khắc hoạ thành công cái chất hiền lành, tình nghĩa mộc mạc mà dung dị cũng như tình đồng chí, đồng đội thiêng liêng cao cả của những người lính nông dân. Từ mọi miền quê trên dải đất hình chữ S, những con người xa lạ bỗng đứng lên theo tiếng gọi của Tổ quốc, tụ họp lại với nhau, trở thành những người lính. Họ là những người nông dân từ những vùng quê lam lũ đói nghèo, quanh năm chỉ biết đến con trâu mảnh ruộng, các anh giã từ quê hương lên đường chiến đấu:
“Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”
Không hẹn mà nên, các anh đã gặp nhau tại một điểm là tình yêu quê hương đất nước. Từ những người “xa lạ” rồi thành “đôi tri kỉ”, về sau thành “đồng chí”. Câu thơ biến hoá 7, 8 từ rồi rút lại, nén xuống còn 2 từ cảm xúc vần thơ như dồn tụ lại, nén chặt lại. Những ngày đầu đứng dưới lá quân kỳ: “Anh với tôi đôi người xa lạ - Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau”. Đôi bạn gắn bó với nhau bằng bao kỉ niệm đẹp:
“Súng bên súng đầu sát bên đầu
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ
Đồng chí!”
Ngày cùng chung nhiệm vụ chiến đấu vai kề vai, súng bên súng, chia nhau gian khổ, nguy hiểm, đêm đắp chung một chiếc chăn chịu rét. Đắp chung chăn trở thành biểu tượng của tình thân hữu, ấm cúng ruột thịt. Những cái chung đã biến những con người xa lại thành đôi tri kỷ. Sự đồng cảnh, đồng cảm và hiểu nhau là cơ sở, là cái gốc để làm nên tình bạn, tình đồng chí.
Tấm lòng của họ đối với đất nước thật cảm động khi giặc đến các anh đã gửi lại người bạn thân mảnh ruộng chưa cày, mặc kệ những gian nhà bị gió cuốn lung lay để ra đi kháng chiến . Bình thường vậy thôi, nhưng nếu không có một tình yêu đất nước xâu nặng không thể có một thái độ ra đi như vậy:
“Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
Gian nhà không, mặc kệ gió lung lay"
Họ đứng lên chiến đấu chỉ vì một lẽ giản dị: tình yêu quê hương đất nước, ý thức dân tộc là máu thịt, là cuộc đời họ. Bởi vậy, họ nguyện bỏ lại tất cả: ruộng nương, xóm làng. Nhưng ở chiến khu, những người lính nông dân lại trở mình, lòng lại bận tâm lo lắng về mảnh ruộng chưa cày, với căn nhà bị gió lung lay. Nỗi nhớ của các anh là thế cụ thể nhưng cảm động biết bao. Người lính luôn hiểu rằng nơi quê nhà người mẹ già, người vợ trẻ cùng đám con thơ đang trông ngóng anh trở về:
“Giếng nước gốc đa, nhớ người ra lính”
Trong những tâm hồn ấy, hẳn sự ra đi cũng đơn giản như cuộc đời thường nhật, nhưng thực sự hành động ấy là cả một sự hy sinh cao cả. Cả cuộc đời ông cha gắn với quê hương ruộng vườn, nay lại ra đi cũng như dứt bỏ đi nửa cuộc đời mình.
Sống tình nghĩa, nhân hậu, hay lo toan cũng là phẩm chất cao đẹp của người lính nông dân. Với họ vượt qua gian khổ thiếu thốn của cuộc sống là điều giản dị bình thường, không có gì phi thường cả:
“Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh,
Sốt run người, vầng trán ướt mồ hôi.
Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cười buốt giá
Chân không giày
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay!”
Chính Hữu đã khắc hoạ hiện thực khó khăn mà người lính gặp phải. Đối mặt với những khó khăn đó, những người lính không hề một chút sợ hãi, những thử thách giữa nơi rừng thiêng nước độc cứ kéo đến liên miên nhưng người lính vẫn đứng vững, vẫn nở “miệng cười buốt giá”. Đó là hình của sự lạc quan, yêu cuộc sống hay cũng là sự động viên giản dị của những người lính với nhau. Những câu thơ hầu như rất giản dị nhưng lại có sức lay động sâu xa trong lòng người đọc chúng ta. Tuy nhiên từ trong sự bình thường, hình ảnh người lính của Chính Hữu vẫn ánh lên vẻ đẹp rực rỡ của lí tưởng, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc, dũng cảm lạc quan trước hiểm nguy kẻ thù rình rập:
“Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo”
Thật là bức tranh đơn sơ, thi vị về người lính trong một đêm chờ giặc tới giữa nơi rừng hoang sương muối. Những người lính kề vai, sát cánh cùng hướng mũi súng vào kẻ thù. Trong cái vắng lặng bát ngát của rừng khuya, trăng bất ngờ xuất hiện chơi vơi lơ lửng nơi đầu súng. Những người lính nông dân giờ đây hiện ra với một tư thế khác hẳn, như những người nghệ sĩ đầy chất thơ, bình dị nhưng vẫn đẹp lạ lùng.
Sẽ là một thiếu sót rất lớn khi lại đề cập quá nhiều đến hình tượng người lính mà lại không nói về tình đồng chí, tình đồng đội của người chiến sĩ trong bài thơ. Tìm hiểu nhau, những người lính hiểu ra họ có cùng chung quê hương vất vả khó nghèo, chung tình giai cấp, chung lý tưởng và mục đích chiến đấu. Chính cái chung ấy như một thứ keo sơn bền vững nối cuộc đời những người lính với nhau để làm nên hai tiếng “đồng chí” xúc động và thiêng liêng.
“Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”
Vẻ đẹp tâm hồn nơi người lính không chỉ phát ra từ những hiện thực khó khăn hiểm nguy mà còn phát ra từ ánh sáng lung linh, chính là tình đồng đội. Vượt rừng đâu phải chuyện dễ dàng. Những căn bệnh quái ác, những đêm tối lạnh buốt xương, những thiếu thốn vật chất của đoàn quân mới được gây dựng vội vã. Nhưng những người lính đã cùng nhau vượt qua. Họ lo cho nhau từng cơn sốt, từng miếng áo rách, quần vá. Với họ quan tâm tới những người đồng đội giờ đây cũng như là quan tâm chăm sóc cho chính mình. Ôi ấm áp biết mấy là cái siết tay của đồng đội lúc gian khó. Cái siết tay truyền đi hơi ấm, sức mạnh cho ý chí con người. Và cùng nhau, giúp đỡ nhau, những người lính vượt qua với tư thế ngẩng cao đầu trước mọi thử thách, gian nan:
“Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh,
…
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay!”
Cái khốn khó, gian truân hãy còn dài trên bước đường kháng chiến dân tộc. Nhưng dường như trước mắt những con người này, mọi thứ không còn hiểm nguy. Trong đêm trăng vắng lặng, bát ngát giữa rừng hoang sương muối, những người lính vẫn kề vai, sát cánh cùng hướng mũi súng về phía kẻ thù.
“Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới”
Sức mạnh của sự tin tưởng lẫn nhau, của sự quan tâm tới nhau giữa những người lính đã làm vững chắc thêm tình đồng đội trong họ. Bởi họ biết rằng khi cùng nhau thắp lên tình đồng chí vững bền, sức mạnh chung nhất sẽ là sức mạnh mạnh nhất. Mục đích chiến đấu vì quê hương, vì Tổ Quốc của họ sẽ càng mau chóng đạt được. Khi ý chí và mục đích hợp chung con đường, thì tình cảm giữa họ càng thắm thiết, sâu đậm. Đó là tình đồng chí giữa những người lính …
Không chỉ dừng ở cung bật tình cảm giữa những người lính, bài thơ “Đồng Chí” còn mang ta đến chi tiết lãng mạn cao hơn ở cuối bài:
“Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo”
Người lính không cô đơn lạnh lẽo vì bên anh đã có đồng đội và cây súng, là những người bạn tin cậy nhất, tình đồng chí đã sưởi ấm lòng anh. Người chiến sĩ toàn tâm toàn ý hướng theo mũi súng. Chính lúc ấy, các anh bắt gặp một hiện tượng kỳ lạ:
“Đầu súng trăng treo”
Nét sáng tạo độc đáo thể hiện bản lĩnh nghệ thuật của của Chính Hữu qua bài thơ chính là hình ảnh này. Từ tình đồng chí, trải qua những thử thách khác nhau, Chính Hữu đã tạo nên cái nhìn đầy chất thơ. Nếu hai câu thơ trên không kết hợp với hình ảnh “đầu súng trăng treo” thì nó khó có những giá trị đặc sắc. Ngược lại, nếu không có sự nâng đỡ của của hai câu thơ đó thì hình ảnh sẽ bị coi là thi vị hoá cuộc sống chiến đấu người lính. Sự hòa quyện nhuần nhuyễn giữa hiện thực và chất thơ lãng mạn, bay bổng đã làm cho “đầu súng trăng treo” trở thành một trong những hình ảnh đẹp nhất thơ ca kháng chiến chống Pháp. Câu thơ chỉ vỏn vẹn bốn từ nhưng nó bao hàm cả cái tình, cái ý và đặc biệt là sự cảm nhận tinh tế của Chính Hữu. Nhờ sự liên tưởng thông minh tài tình, tâm hồn giàu cảm xúc, Chính Hữu đã gợi lên một không gian bát ngát giữa vũ trụ bao la, nó có cái gì đó rất bồng bềnh, huyền bí, khó tả. Hình ảnh đó gây được ấn tượng thẩm mỹ sâu sắc với người đọc . đồng thời, nó trở thành hình tượng đa nghĩa độc đáo của thi ca. “Đầu súng trăng treo” được xây dựng bằng bút pháp siêu thực, đầy chất thơ. Tại sao vậy? Chúng ta thực sự đánh giá cao không gian nghệ thuật hiện thực của “nước mặn đồng chua”, “đất cày lên sỏi đá” và đặc biệt là không gian “rừng hoang sương muối”; nó đã góp phần tô đẹp thêm hình tượng vầng trăng, cây súng. Hai hình ảnh này đối lập nhau rất rõ. Một bên là vầng trăng muôn thuở hấp dẫn và kì lạ, thanh bình với thi ca. Nó biểu tượng cho cuộc sống tươi đẹp, hòa bình, hạnh phúc của nhân loại, đồng thời cũng là ước mơ cuộc sống tươi đẹp hòa bình hạnh phúc. Nhưng trăng ở đây lại được đặt trong mối quan hệ với súng. Một bên là súng, súng biểu tượng cho chiến tranh và cái chết nhưng súng cũng trở thành lý tưởng cao đẹp, tinh thần chiến đấu vì cuộc sống hòa bình dân tộc của người chiến sĩ. Trăng là vẻ đẹp lãng mạn, súng là hiện thực. Tuy đối lập, nhưng hai hình tượng này đã tôn thêm vẻ đẹp cho nhau, tạo nên vẻ đẹp hoàn mỹ nhất. Không phải ngẫu nhiên khi Chính Hữu đưa hai hình ảnh ngược nhau trong một câu thơ. Qua đó ông muốn khẳng định cái khát vọng về một cuộc sống yên lành đầy chất thơ: để cho vầng trăng kia sáng mãi, trong hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ, mọi người phải cầm súng chiến đấu. Có thể nói, hình ảnh “Đầu súng trăng treo” là một phát hiện thú vị, mới lạ độc đáo của Chính Hữu. Chính hữu đã sử dụng bút pháp hiện thực để tạo nên hình ảnh thơ vừa hiện thực vừa lãng mạn. Trăng và súng kết thành một không gian thơ trữ tình, là biểu tượng cho tình thần dũng cảm, hào hoa muôn thuở của dân tộc nói chung và người lính nói riêng.
Bài thơ đã kết thúc nhưng nó sẽ còn sống mãi chừng nào con người chưa mất đi bản năng của chính mình: sự rung động. Quả thật văn chương đã tạo ra cho mình một thế đứng riêng còn mạnh hơn lịch sử. Cùng tái hiện lại một thời đau thương nhưng vĩ đại và hình tượng người chiến sĩ nhưng văn chương đã đến với người đọc theo con đường của trái tim, gây nên những xung động thẩm mĩ trong tâm hồn con người, làm thành sự xúc cảm tận đáy tâm hồn và những ấn tượng không thể nào quên. Đó là những năm đau thương chứng kiến những con người cao cả kiên cường, những người lính dũng cảm bất khuất. Họ không khô khan mà bầu nhiệt huyết nung nấu, tràn đầy lòng hy sinh, với tình đồng đội trong sáng, thân ái. Chính những điều đó làm bài thơ “Đồng Chí” trên những trang giấy vẫn có lúc được lật lại, vẫn nhỏ từng giọt ngân vang, tưởng đến những con người thần kì mà bình dị với niềm tự hào kiêu hãnh, cho nay và mai sau mãi nhớ về.
Quảng cáo
Bạn cần hỏi gì?
Câu hỏi hot cùng chủ đề
-
26451
-
14038
-
Đã trả lời bởi chuyên gia
10329 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
8861 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
7848 -
7721
-
Đã trả lời bởi chuyên gia
6047
