Quảng cáo
4 câu trả lời 271
Bài làm:
Trong kho tàng thơ ca Việt Nam viết về tình cảm gia đình, có lẽ “Bếp lửa” của Bằng Việt là một trong những bài thơ xúc động và gần gũi nhất. Với giọng thơ chân thành, giàu cảm xúc, tác giả đã gợi lại những kỉ niệm tuổi thơ bên người bà thân yêu, qua hình ảnh ngọn bếp lửa – biểu tượng của tình yêu thương, niềm tin và sức sống bền bỉ của con người Việt Nam.
Ngay từ câu mở đầu:
“Một bếp lửa chờn vờn sương sớm,
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm…”
Ngọn lửa ấy không chỉ là bếp lửa thật nơi góc nhà xưa, mà còn là ngọn lửa của tình thương, của sự chăm sóc mà người bà dành cho đứa cháu nhỏ. Hình ảnh bếp lửa xuất hiện suốt bài thơ như sợi chỉ đỏ kết nối quá khứ – hiện tại, gợi trong lòng người cháu bao nhớ thương da diết.
Tác giả nhớ lại những năm tháng tuổi thơ gian khổ, khi “bố đi đánh xe, khói hun nhèm mắt cháu”, khi “giặc đốt làng xóm”. Trong khói lửa chiến tranh, chính bàn tay gầy guộc của bà đã nhóm lên bếp lửa, nhóm lên cả niềm tin, nghị lực và tình yêu thương. Bếp lửa ấy sưởi ấm tuổi thơ, nuôi dưỡng tâm hồn, dạy cho người cháu biết yêu thương, biết kiên cường vượt qua khó khăn.
Khi lớn lên, dù “đã đi xa, trăm ngàn bếp lửa mới”, nhưng người cháu vẫn không quên “bếp lửa bà nhen mỗi sớm, mỗi chiều”. Bởi hơn tất cả, đó là biểu tượng của cội nguồn, của tình thân và lòng biết ơn. Bằng Việt không chỉ viết về bà của riêng mình, mà còn viết về người bà, người mẹ Việt Nam tần tảo, hi sinh thầm lặng vì con cháu, vì quê hương.
Với giọng thơ nhẹ nhàng, tha thiết, ngôn ngữ giàu hình ảnh, bài thơ “Bếp lửa” đã khơi gợi trong lòng người đọc những tình cảm thiêng liêng, sâu nặng về gia đình, về truyền thống “uống nước nhớ nguồn”.
Kết bài:
“Bếp lửa” là một bài thơ đẹp, giàu cảm xúc và đầy nhân văn. Ngọn lửa trong thơ Bằng Việt không chỉ sưởi ấm tuổi thơ của người cháu, mà còn sưởi ấm trái tim của mỗi chúng ta, nhắc nhở rằng: trong hành trình đi xa của cuộc đời, đừng bao giờ quên ngọn lửa yêu thương nơi quê nhà – ngọn lửa được nhóm lên từ bàn tay của những người thân yêu.
Mở bài
Trong dòng chảy của văn học Việt Nam hiện đại, thơ ca viết về tình cảm gia đình luôn chiếm một vị trí quan trọng, chạm đến những rung cảm sâu thẳm nhất trong lòng người đọc. "Bếp lửa" của Bằng Việt là một tác phẩm như thế. Được sáng tác năm 1963, khi nhà thơ đang học tập tại Liên Xô, bài thơ là một dòng hồi tưởng xúc động về người bà và những kỷ niệm tuổi thơ bên bếp lửa quê nhà. Bằng Việt đã biến hình ảnh bếp lửa mộc mạc, bình dị trở thành một biểu tượng đa nghĩa, thể hiện tình bà cháu thiêng liêng, đồng thời khơi dậy những suy ngẫm sâu sắc về cội nguồn, về quê hương và về giá trị của tình cảm gia đình.
Thân bài
Hình ảnh bếp lửa - Khơi nguồn hồi tưởng và cảm xúcBài thơ mở đầu bằng hình ảnh "bếp lửa chờn vờn sương sớm" ở nơi xứ người, đã gợi lên dòng hồi tưởng về quá khứ. Ngọn lửa bập bùng, những làn khói đã làm sống lại trong tâm trí người cháu những năm tháng tuổi thơ cơ cực nhưng chan chứa tình yêu thương. Bếp lửa không chỉ là nơi nấu ăn mà còn là nơi gắn kết, là chứng nhân của mọi buồn vui, của cả một tuổi thơ "khởi đầu một đời sống". Bếp lửa ấy không chỉ là ngọn lửa vật chất, mà còn là ngọn lửa của tình yêu, của sự sống và của những giá trị tinh thần vĩnh cửu.
Hình ảnh người bà - Biểu tượng của tình yêu thương và sự hy sinhXuyên suốt bài thơ, hình ảnh bếp lửa luôn song hành với hình ảnh người bà tần tảo, giàu đức hy sinh. Bà là người "nhóm bếp lửa" và cũng là người thắp lên ngọn lửa của tình yêu thương, sự sống trong lòng đứa cháu. Bà đã tần tảo nuôi cháu khôn lớn giữa những năm tháng chiến tranh, đói khổ, "bếp lửa mỗi sớm mai" ấy đã trở thành chỗ dựa tinh thần vững chắc cho đứa cháu nhỏ. Tình yêu thương của bà không thể hiện bằng lời nói hoa mỹ mà bằng những hành động lặng lẽ, kiên trì, bằng những lời dặn dò, những lời động viên giản dị. Từ bàn tay "ấp iu" nhóm bếp lửa đến tấm lòng "biết mấy nắng mưa", người bà hiện lên như một biểu tượng của sự hy sinh thầm lặng, của tình yêu thương vô bờ bến.
Tình bà cháu - Cội nguồn của tình yêu quê hương, đất nướcTình bà cháu trong bài thơ được xây dựng một cách tự nhiên và sâu sắc. Từ tình yêu thương dành cho bà, người cháu đã mở rộng ra tình yêu đối với quê hương, đất nước. Bếp lửa không chỉ gắn với kỷ niệm của hai bà cháu, mà còn gắn với những "niềm tin dai dẳng" của cả dân tộc trong những năm tháng kháng chiến gian khổ. Tình cảm gia đình hòa quyện với tình yêu quê hương, trở thành một sức mạnh tinh thần lớn lao, giúp con người vượt qua mọi khó khăn.
Nghệ thuật đặc sắcBài thơ thành công nhờ sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố tự sự và trữ tình. Giọng thơ tâm tình, thủ thỉ, những hình ảnh thơ mộc mạc mà giàu sức gợi, như "chờn vờn sương sớm", "ấp iu nồng đượm", "khói hun nhèm mắt cháu" đã tạo nên sức lay động mạnh mẽ. Đặc biệt, biện pháp hoán dụ và ẩn dụ được sử dụng một cách tinh tế. Hình ảnh bếp lửa không chỉ là bếp lửa thông thường mà đã trở thành biểu tượng cho tình bà, cho tình cảm gia đình, và cho cả những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
Kết bài
"Bếp lửa" của Bằng Việt không chỉ là một bài thơ hay về tình bà cháu mà còn là một tác phẩm giàu giá trị nhân văn. Qua lời tâm tình của người cháu, Bằng Việt đã gửi gắm một thông điệp sâu sắc: tình cảm gia đình, tình yêu thương quê hương chính là ngọn lửa ấm áp, là điểm tựa vững chắc cho mỗi con người trên đường đời. Dù đi đâu, về đâu, dù cuộc sống có thay đổi, ngọn lửa của tình yêu và lòng biết ơn ấy vẫn sẽ mãi mãi cháy sáng trong tim mỗi người.
Trong dòng chảy của văn học Việt Nam hiện đại, thơ ca viết về tình cảm gia đình luôn chiếm một vị trí quan trọng, chạm đến những rung cảm sâu thẳm nhất trong lòng người đọc. "Bếp lửa" của Bằng Việt là một tác phẩm như thế. Được sáng tác năm 1963, khi nhà thơ đang học tập tại Liên Xô, bài thơ là một dòng hồi tưởng xúc động về người bà và những kỷ niệm tuổi thơ bên bếp lửa quê nhà. Bằng Việt đã biến hình ảnh bếp lửa mộc mạc, bình dị trở thành một biểu tượng đa nghĩa, thể hiện tình bà cháu thiêng liêng, đồng thời khơi dậy những suy ngẫm sâu sắc về cội nguồn, về quê hương và về giá trị của tình cảm gia đình.
Thân bài
Hình ảnh bếp lửa - Khơi nguồn hồi tưởng và cảm xúcBài thơ mở đầu bằng hình ảnh "bếp lửa chờn vờn sương sớm" ở nơi xứ người, đã gợi lên dòng hồi tưởng về quá khứ. Ngọn lửa bập bùng, những làn khói đã làm sống lại trong tâm trí người cháu những năm tháng tuổi thơ cơ cực nhưng chan chứa tình yêu thương. Bếp lửa không chỉ là nơi nấu ăn mà còn là nơi gắn kết, là chứng nhân của mọi buồn vui, của cả một tuổi thơ "khởi đầu một đời sống". Bếp lửa ấy không chỉ là ngọn lửa vật chất, mà còn là ngọn lửa của tình yêu, của sự sống và của những giá trị tinh thần vĩnh cửu.
Hình ảnh người bà - Biểu tượng của tình yêu thương và sự hy sinhXuyên suốt bài thơ, hình ảnh bếp lửa luôn song hành với hình ảnh người bà tần tảo, giàu đức hy sinh. Bà là người "nhóm bếp lửa" và cũng là người thắp lên ngọn lửa của tình yêu thương, sự sống trong lòng đứa cháu. Bà đã tần tảo nuôi cháu khôn lớn giữa những năm tháng chiến tranh, đói khổ, "bếp lửa mỗi sớm mai" ấy đã trở thành chỗ dựa tinh thần vững chắc cho đứa cháu nhỏ. Tình yêu thương của bà không thể hiện bằng lời nói hoa mỹ mà bằng những hành động lặng lẽ, kiên trì, bằng những lời dặn dò, những lời động viên giản dị. Từ bàn tay "ấp iu" nhóm bếp lửa đến tấm lòng "biết mấy nắng mưa", người bà hiện lên như một biểu tượng của sự hy sinh thầm lặng, của tình yêu thương vô bờ bến.
Tình bà cháu - Cội nguồn của tình yêu quê hương, đất nướcTình bà cháu trong bài thơ được xây dựng một cách tự nhiên và sâu sắc. Từ tình yêu thương dành cho bà, người cháu đã mở rộng ra tình yêu đối với quê hương, đất nước. Bếp lửa không chỉ gắn với kỷ niệm của hai bà cháu, mà còn gắn với những "niềm tin dai dẳng" của cả dân tộc trong những năm tháng kháng chiến gian khổ. Tình cảm gia đình hòa quyện với tình yêu quê hương, trở thành một sức mạnh tinh thần lớn lao, giúp con người vượt qua mọi khó khăn.
Nghệ thuật đặc sắcBài thơ thành công nhờ sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố tự sự và trữ tình. Giọng thơ tâm tình, thủ thỉ, những hình ảnh thơ mộc mạc mà giàu sức gợi, như "chờn vờn sương sớm", "ấp iu nồng đượm", "khói hun nhèm mắt cháu" đã tạo nên sức lay động mạnh mẽ. Đặc biệt, biện pháp hoán dụ và ẩn dụ được sử dụng một cách tinh tế. Hình ảnh bếp lửa không chỉ là bếp lửa thông thường mà đã trở thành biểu tượng cho tình bà, cho tình cảm gia đình, và cho cả những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
Kết bài
"Bếp lửa" của Bằng Việt không chỉ là một bài thơ hay về tình bà cháu mà còn là một tác phẩm giàu giá trị nhân văn. Qua lời tâm tình của người cháu, Bằng Việt đã gửi gắm một thông điệp sâu sắc: tình cảm gia đình, tình yêu thương quê hương chính là ngọn lửa ấm áp, là điểm tựa vững chắc cho mỗi con người trên đường đời. Dù đi đâu, về đâu, dù cuộc sống có thay đổi, ngọn lửa của tình yêu và lòng biết ơn ấy vẫn sẽ mãi mãi cháy sáng trong tim mỗi người.
Trong cuộc đời mỗi con người chúng ta có thể quên đi nhiều điều, nhưng ký ức tuổi thơ thì khó có thể phai nhạt. Đối với Bằng Việt, kỷ niệm thơ gắn liền với hình ảnh người bà thân thương và bếp lửa nồng đượm. Tất cả kỷ niệm thời thơ ấu thật ấy được tác giả làm sống dậy trong bài thơ "Bếp lửa". Bài thơ được viết năm 1963 khi tác giả đang sinh sống và học tập xa đất nước.
Bài thơ đã khắc họa chân thật hình ảnh người bà gắn liền với những kỷ niệm trong quá khứ để từ đó tác giả bộc lộ tâm trạng nhớ nhung cùng với những tình cảm yêu thương xen lẫn cảm phục của mình đối với người bà thân yêu.
Đi ra từ nỗi nhớ, tất cả những hình ảnh, ngôn từ bị cuốn theo dòng hoài niệm. Một thờ quá khứ được tái hiện lại trong tâm tưởng với những chi tiết rất cụ thể. Tác giả nâng niu từng mảnh ký ức ký ức hiện về. Theo diễn biến tâm tư của nhân vật người cháu, chúng ta cảm nhận thắm thía từng cung bậc tâm trạng theo từng ngọn lửa trong bài thơ: Lửa của kỷ niệm tuổi thơ, lửa của cuộc sống lúc đã trưởng thành; bếp lửa của bà ngày xưa, bếp lửa ngày nay.
Sống xa quê hương, giã từ xứ lạnh đầy sương tuyết, tác giả chạnh lòng nhớ đến một bếp lửa thật ấm áp của quê hương. Bếp lửa gắn chặt với hình ảnh người bà, bếp lửa của một thời thơ ấu với nhiều kỷ niệm khó phai.
"Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa"
Trong mấy câu thơ mở đầu có một bếp lửa chờn vờn mang màu cổ tích. Hình ảnh "chờn vờn sương sớm" thật sống động, gợi lên ngọn lửa không định hình khi to khi nhỏ, khi lên khi xuống nhưng rất mạnh mẽ. Sử dụng hình ảnh ấy rất thích hợp với trạng thái tâm lý hồi tưởng những gì đã qua, đã rời ra nhưng lại có sức ám ảnh day dứt. Từ láy "ấp iu" bao gồm hàm ý bé nhỏ, thầm kín bên trong, đồng thời còn gợi lên cho ta bàn tay khéo léo, kiên nhẫn và chăm chút của người nhóm lửa. Điệp ngữ "một bếp lửa" được lặp lại ở đầu những câu thơ có tác dụng nhấn mạnh dấu ấn kỷ niệm sâu lắng trong ký ức tác giả. Nó trở thành hình tượng xuyên suốt hết bài thơ. Hồi tưởng về bếp lửa của quê hương, cũng chính là hồi tưởng về người bà thân yêu của mình. "Cháu thương bà biết mấy nắng mưa". Đọng lại trong 3 dòng thơ đầu có lẽ là chữ "thương" và hình ảnh người bà lặng lẽ, âm thầm trong khung cảnh lầm lũi "biết mấy nắng mưa". Hai chữ "nắng mưa" không chỉ để nói đến nắng mưa của thiên nhiên mà còn gợi cho ta nghĩ đến nắng mưa cuộc đời. Biết bao tình cảm xúc động mà nghẹn ngào trong câu thơ ấy!
Từ tình thương và nỗi nhớ da diết tràn đầy đã đánh thức tác giả sống lại với những năm tháng ấu thơ.
"Lên bốn tuổi.…
...còn cay!"
Lẽ thường, vui thì người ta cũng nhớ, nhưng những kỷ niệm buồn thường sâu đậm hơn nhiều. Tuổi thơ ấy có bóng đen ghê rợn, đau buồn của nạn đói năm 1945. Đó là năm "đói mòn đói mỏi", "bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy". Đứa trẻ đã sớm có ý thức tự lập và phải sống trong sự cưu mang của người bà. Cảm nhận về nỗi vất vả gián tiếp tác giả bộc lộ thời thơ ấu của mình. "Mùi khói" rồi lại "khói hun nhèm", có thể nói nhà thơ đã chọn được mỗi chi tiết thật chính xác, vừa miêu tả chân thực cuộc sống tuổi thơ, vừa biểu hiện những tình cảm da diết, bâng khuâng, xót xa, thương mến. Hình ảnh "khói hun nhèm mắt" cũng gợi cho ta nghĩ đến sự cay cực, vất vả tỏa ra từ 1 bếp lửa của gia đình nghèo khổ. Câu thơ "nghĩ lại .... cay" tô đậm nỗi niềm thổn thức của tác giả. Thơ Bằng Việt có sức truyền cảm mạnh mẽ nhờ những chi tiết, ngôn từ chân thật giản dị như thế. Cái bếp lửa kỷ niệm của nhà thơ chỉ mới khơi lên, thoang thoảng mùi khói, mờ mờ sắc khói ... mà đã đầy ắp những hình ảnh hiện thực, thấm đậm biết bao nghĩa tình sâu nặng.
Đồ dùng nhà bếp
Từ sau sương khói mịt mờ của tuổi thơ, tác giả đã thổi phồng lên những kỷ niệm của tuổi thiếu niên khi quê hương đất nước có chiến tranh.
"Tám năm ròng.…
...trên những cánh đồng xa."
Ngôn ngữ, hình ảnh thơ rõ dần. Giọng thơ như thể giọng kể trong 1 câu chuyện cổ tích, có thời gian, không gian, có sự việc và các nhân vật cụ thể. Nếu trong hồi ức, lúc tác giả lên bốn tuổi, ấn tượng đậm nét nhất của đứa cháu là "mùi khói", thì đến đây, xuất hiện 1 ấn tượng khác là "tiếng tu hú". Lúc mơ hồ, vắng lặng "trên những cánh đồng xa"., lúc gần gũi, nghẹn ngào "sao mà tha thiết thế", tiếng tu hú như than thở, sẻ chia những nỗi nhớ xa cách, trông ngóng mỏi mòn. Đưa tiếng tu hú, một âm thanh rất đồng nội ấy vào thơ, Bằng Việt quả là có 1 tâm hồn gắn bó sâu nặng với quê hương.
Trong những câu thơ ấy, ta thấy từ "bà" được lặp lại nhiều lần cùng với cấu trúc "bà-cháu" sóng đôi gợi sắc điệu tình cảm xoắn xuýt, gắn bó, ấm áp của tình bà cháu. Tác giả như trách móc loài chim tu hú vô tình chỉ gợi sự cô đơn đến vắng vẻ mà không đến san sẻ với bà. Cách nói này đã bộc lộ kín đáo, ý nhị tình cảm của tác giả đối với bà. Tiếng chim tu hú trong khổ thơ làm cho không gian kỷ niệm có chiều sâu. Nỗi nhớ của cháu về bà bỗng trở nên thăm thẳm và vời vợi. Ẩn chứa đằng sau những câu chữ ấy là tình cảm thương yêu, xót xa của nhà thơ trước nỗi cô đơn và sự vất vả của bà.
Quảng cáo
Bạn cần hỏi gì?
Câu hỏi hot cùng chủ đề
-
Đã trả lời bởi chuyên gia
251192 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
78991 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
63175 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
62510 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
53333 -
47349
-
Đã trả lời bởi chuyên gia
44210 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
41876 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
41772
