Quảng cáo
3 câu trả lời 340
Mở bài:
Nguyễn Khuyến là một nhà thơ lớn của văn học Việt Nam, được mệnh danh là “nhà thơ của làng cảnh Việt Nam”. Trong chùm thơ thu nổi tiếng gồm Thu Điếu, Thu Ẩm và Thu Vịnh, bài “Thu Vịnh” thể hiện rõ nhất tâm hồn tinh tế, nỗi cô đơn và tình yêu quê hương tha thiết của ông trong buổi chiều muộn của cuộc đời.
Thân bài:
Bài thơ mở đầu bằng bức tranh mùa thu trong sáng, nhẹ nhàng mà tinh tế:
“Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.”
Chỉ bằng hai câu thơ, Nguyễn Khuyến đã khắc họa một không gian thu trong trẻo, cao vời vợi. Màu “xanh ngắt” của bầu trời hòa cùng làn gió “hắt hiu” lay động cành trúc nhỏ, tạo cảm giác vừa tĩnh lặng vừa man mác buồn. Cảnh vật ấy không chỉ đẹp mà còn ẩn chứa nỗi lòng cô đơn, trầm tư của tác giả trước thiên nhiên và cuộc đời.
Hai câu thực tiếp tục mở rộng bức tranh thu bằng những hình ảnh gần gũi, giản dị:
“Nước biếc trông như tầng khói phủ,
Song thưa để mặc bóng trăng vào.”
Cảnh thu hiện lên vừa mờ ảo vừa thanh khiết. “Nước biếc” và “trăng vào” là hai gam màu chủ đạo tạo nên vẻ đẹp huyền diệu, tĩnh lặng. Ẩn trong đó là tâm hồn thi sĩ – một con người yêu thiên nhiên, nhưng cũng mang nặng nỗi buồn thời thế.
Hai câu luận thể hiện rõ sự giao hòa giữa con người và cảnh vật:
“Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,
Một tiếng trên không ngỗng nước nào.”
Những hình ảnh quen thuộc của làng quê Bắc Bộ – giậu mồng tơi, hoa cúc – được gợi lại, làm nổi bật không khí thu cổ điển, thanh sơ. Tiếng ngỗng vang vọng trong không gian tĩnh lặng càng làm cho nỗi cô đơn của nhà thơ thêm sâu sắc. Đó không chỉ là cảnh thu mà còn là tình thu – tâm trạng buồn, trầm mặc của người trí sĩ ẩn dật, bất lực trước thời cuộc.
Hai câu kết kết tinh cảm xúc của toàn bài:
“Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.”
Tác giả định làm thơ vịnh cảnh thu, nhưng lại cảm thấy “thẹn” với Đào Tiềm – một nhà thơ ẩn dật nổi tiếng của Trung Hoa. Cái “thẹn” ở đây là biểu hiện của nhân cách cao đẹp: tự ý thức về tài năng, về đạo đức, về sự bất lực của mình trước thời thế. Nỗi “thẹn” ấy vừa thể hiện lòng tự trọng, vừa gợi nỗi buồn sâu lắng của một nhà nho yêu nước mà không thể giúp dân, giúp đời.
Kết bài:
Bằng bút pháp tinh tế, ngôn ngữ giản dị và hình ảnh đặc trưng của làng quê Việt, “Thu Vịnh” là một trong những bài thơ đặc sắc nhất của Nguyễn Khuyến. Bài thơ không chỉ vẽ nên bức tranh mùa thu thanh nhã, tĩnh lặng mà còn phản chiếu tâm hồn trong sáng, nỗi buồn thầm kín và lòng yêu nước sâu sắc của nhà thơ. “Thu Vịnh” vì thế mãi là viên ngọc sáng trong kho tàng thơ ca dân tộc.
Thiên nhiên mùa thu của quê hương làng cảnh Việt Nam, dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Khuyến đẹp một cách thanh cao, gợi cảm, hồn hậu, khiến chúng ta càng thêm yêu, thêm quý quê hương đất nước của mình.
Nguyễn Khuỵến nổi tiếng với chùm thơ ba bài viết về mùa thu Thu vịnh, Thu điếu, Thu ẩm. Có lẽ Nguyễn Khuyến đã viết theo lối “chùm ba” của Đỗ Phủ - đại thi hào Trung Quốc này nổi tiếng với “Tam biệt”, “Tam lại”...). Theo nhận xét của Xuân Diệu thì trong ba bài thơ mùa thu của Nguyễn Khuyên, bài thơ Thu vịnh mang cái hồn cua cảnh vật mùa thu hơn cả, cái thanh, cái trong, cái nhẹ, cái cao. Thu vịnh mang cái thần của cảnh mùa thu xứ Bắc và cả tâm sự u uấn của thi nhân:
Trời thu xanh ngắt mấy từng cao.
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.
Nước biếc trông như tảng khói phủ,
Song thưa để mặc bóng trăng vào
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái
Một tiếng trên không ngỗng nước nào?
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.
Bức tranh vẽ mùa thu được tác giả phác họa với không gian thoáng đãng. Nến trời chấm phá một nét nhẹ, mềm của cảnh trúc:
Trời thu xanh ngắt mấy từng cao,
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.
Mùa thu của xứ Bắc có bầu trời cao xanh trong đã hiện lên trong thơ Nguyễn Khuyến là “trời thu xanh ngắt”. Màu sắc ấy là màu của trời thu mà cũng là cái tình tha thiết của thi nhân đối với mùa thu, đối với quê hương lang cảnh. Không gian mở ra thăm thẳm “mấy tầng cao”, một cần trúc (trúc chứ không phải là tre) vươn lên trên nền trời thu “xanh ngắt”. Nét cong mềm của “cần trúc” vươn lên một cách thanh cao, không ủy mị như rặng liễu đìu hiu buông xuống trong thơ mùa thu của Xuân Diệu. Từ láy “lơ phơ” gợi tả vẻ thưa thớt của những lá trúc lay động bởi gió heo may mùa thu. Từ láy "hát hiu” gợi được sự rung động của cành trúc, hay là sự rung động của tâm hồn thi nhân trước cảnh thu, trời thu đượm buồn?
Bức tranh mùa thu trong Thu vịnh cứ được thêm hòa sắc mới, đường nét, hình ảnh mới:
Nước biếc trông như tầng khói phủ
Song thưa để mặc bóng trăng vào
Hình ảnh mùa thu được pha thêm màu “nước biếc", thêm một sắc xanh tha thiết nữa, màu của áo thu trong xanh, với “khói phủ” nhạt nhòa. “Khói” dãy gợi nhứ “khói sóng" trong thơ Thối Hiệu “Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai . Cảnh đêm thu thật là huyền diệu. Lại thêm có trăng. Thi nhân mở ra đón trăng “Song thưa để mặc bóng trăng vào". Trong đêm thu thanh tĩnh, trăng là người bạn tri kỉ của thi nhân. Có ánh trăng thu, bức tranh mùa thu trong thơ thêm sáng. Mọi vật trong đêm thu được pha thêm ánh trăng huyền ảo, mộng mơ.
Cảnh thu thêm huyền hoặc, từ màu hoa cho đến tiếng chim:
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái
Một tiếng trên không ngỗng nước nào?
Hoa mùa thu không đổi, không có sắc màu vì khói phủ nhạt nhòa hay nhà thơ mất hết ý niệm về thời gian? “Mấy chùm trước giậu" làm sao biết được đó là hoa gì, màu sắc như thế nào. Chỉ biết đó là “hoa năm ngoái”. Tứ thơ của Nguyễn Khuyến còn trừu tượng hơn, ở đây chẳng có hoa đào, hoa cúc gì cả. Hình ảnh “hoa năm ngoái” thể hiện thời gian ngưng đọng, tâm trạng bất biến của thi nhân. Câu thơ thể hiện một nỗi buồn man mác. Âm thanh mùa thu là một tiếng ngỗng trời xa lạ “ngỗng nước nào”. Tiếng ngỗng trời lạnh cả không gian mùa thu đã làm thổn thức nỗi lòng của thi nhân.
Đêm thu huyền diệu dã gợi cảm hứng cho nhà thơ. Thi hứng cũng chợt đến trong nỗi niềm u uẩn của thi nhân:
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút.
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.
Trước cảnh thu huyền diệu, nhà thơ đã bộc lộ trực tiếp nỗi lòng của mình. Theo quan điểm của Nguyễn Khuyến mà cũng là quan điểm của các nhà thơ chân chính, thơ gắn liền với nhân cách, nhân cách lớn thì thơ lớn.
Rung động trước mùa thu, cất bút định làm thơ, Nguyễn Khuyến cảm thấy “thẹn với ông Đào”. Ông Đào ở đây tức là Đào Tiềm (Đào Uyên Minh), một nhà thơ nổi tiếng ở Trung Quốc thời Lục Triều. Ông đỗ tiến sĩ, ra làm quan, rồi chán ghét cảnh quan trường thối nát đã treo ấn từ quan, lui về ẩn dật và có bài Qui khứ lai từ rất nổi tiếng. Sao cụ Nguyễn lại “thẹn” với ông Đào? Thái độ này chưa từng thấy đối với các thi nhân cổ kim. về khoa bảng, ông Đào đỗ tiến sĩ, cụ Nguyễn cũng đỗ tiến sĩ, cụ Nguyễn lại còn có Tam Nguyên, người đời gọi cụ là Tam Nguyên Yên Đổ. Về tài học, thơ của Nguyễn Khuyến kém gì thơ Đào Uyên Minh? Nguyễn Khuyến là một trong những nhà thơ cổ điển lớn nhất của nước nhà được Xuân Diệu phong là “Nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam" và hết lời ngợi ca. Có lẽ cụ Nguyễn “thẹn với ông Đào'' là về khí tiết. Cụ Nguyễn thiếu cái dũng khí của ông Đào, người đã tư quan một cách dứt khoát, trở thành một nhân vật lừng danh về khí tiết trong giới quan trường Trung Hoa. Còn Nguyễn Khuyến thì lúng túng khi ra làm quan (thời đó ra làm quan tránh sao khỏi là tay sai của giặc Pháp) và lừng khừng khi đồng cảm của người đời. Đã về ẩn dật rồi, cụ Nguyễn vẫn còn chưa nguôi ân hận về những năm tham gia guồng máy chính quyền thối nát tàn bạo thời bấy giờ. Câu thơ của một tấm lòng chân thực là nỗi niềm u uẩn của một nhân cách lớn, của một nhà thơ lớn.
Thu vịnh là một bài thơ hay viết về mùa thu cua Nguyễn Khuyến. Bức tranh mùa thu với màu sắc thanh đạm, đường nét uyển chuyển, không gian cao rộng, cảnh vật huyền ảo dưới ánh nắng trắng trong thể hiện nỗi lòng tha thiết của nhà thơ đối với quê hương đất nước. Nhân vẻ đẹp của đêm thu. Nhà thơ cũng bộc bạch tâm sự sâu kín, chân thật của mình hết sức cảm động.
Thiên nhiên mùa thu của quê hương làng cảnh Việt Nam, dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Khuyến đẹp một cách thanh cao, gợi cảm, hồn hậu, khiến chúng ta càng thêm yêu, thêm quý quê hương đất nước của mình.
Dưới đây là bài văn phân tích bài thơ “Thu vịnh” của Nguyễn Khuyến, một trong ba bài thơ nổi tiếng thuộc chùm thơ thu (Thu điếu, Thu vịnh, Thu ẩm):
PHÂN TÍCH BÀI THƠ “THU VỊNH” – NGUYỄN KHUYẾN
Nguyễn Khuyến là một nhà thơ lớn của dân tộc, nổi bật với những vần thơ Nôm mang hồn quê mộc mạc, sâu sắc. Trong chùm thơ thu nổi tiếng của ông, bài “Thu vịnh” là một bức tranh mùa thu mang vẻ đẹp cổ điển mà vẫn rất gần gũi với làng quê Việt. Bài thơ thể hiện tài năng quan sát tinh tế và tâm hồn thanh cao của nhà thơ khi sống ẩn dật, tránh vòng danh lợi.
Nguyên văn bài thơ “Thu vịnh”:
Vẳng tiếng chim kêu sương rụng rụng,
Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao.
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo.
Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt,
Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe.
Ngõ trúc quanh co không bước khách,
Buồng thu hiu hắt đóng then lò.
Phân tích:
Ngay từ nhan đề “Thu vịnh” (ngắm mùa thu), ta thấy được tâm thế của nhà thơ: không câu cá như trong “Thu điếu”, không uống rượu như trong “Thu ẩm”, mà là tĩnh tại, ngắm cảnh và suy ngẫm.
Hai câu đầu mở ra không gian mùa thu đầy chất thơ:
Vẳng tiếng chim kêu sương rụng rụng,
Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao.
“Vẳng” là âm thanh xa, nhẹ, gợi sự tĩnh lặng đến mức tiếng chim cũng trở nên sâu lắng. Hình ảnh “sương rụng” là cách nói sáng tạo, giàu hình tượng: sương đêm buông xuống như rơi rụng, báo hiệu thời điểm giao mùa, chuyển lạnh. Không gian được nâng lên cao qua “trời thu xanh ngắt mấy tầng cao”, gợi cảm giác rộng lớn, khoáng đạt nhưng cũng vắng lặng, cô tịch. Sự vắng vẻ ấy như soi chiếu vào tâm hồn người ngắm cảnh.
Hai câu thực tiếp tục miêu tả cảnh vật mùa thu với những chuyển động rất nhẹ:
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo.
Chỉ một chút “gợn tí” của làn sóng, một cái “đưa vèo” của chiếc lá vàng cũng đủ làm nổi bật sự tĩnh lặng tuyệt đối của không gian. Tác giả sử dụng nghệ thuật lấy động tả tĩnh rất đặc sắc: càng có chuyển động nhẹ thì cái tĩnh càng được nhấn mạnh. Đây chính là đặc trưng của bút pháp tả cảnh ngụ tình trong thơ Đường luật cổ điển.
Đến câu luận, nhà thơ chuyển sang biểu hiện cảm xúc và suy ngẫm:
Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt,
Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe.
Một câu hỏi tu từ đầy chất thơ “Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt?” thể hiện sự ngạc nhiên trước vẻ đẹp của thiên nhiên, đồng thời bộc lộ cái nhìn tinh tế, say mê của tác giả với trời thu. Nhưng bất ngờ ở câu sau: “Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe” – không phải vì uống rượu, vì gió thu mà đỏ hoe, mà có lẽ là vì xúc động, vì tuổi già, vì nỗi buồn thế sự. Đó là sự hòa quyện giữa cảnh thu tĩnh lặng với tâm trạng u hoài của người ẩn sĩ xa rời chốn quan trường.
Hai câu kết khép lại bài thơ bằng không gian vắng vẻ, tĩnh mịch và lạnh lẽo:
Ngõ trúc quanh co không bước khách,
Buồng thu hiu hắt đóng then lò.
Cảnh vật không có bóng người, không có hơi ấm, chỉ còn “hiu hắt” và “đóng then lò” – tất cả đều gợi sự cô đơn, lặng lẽ. Có thể thấy, nhà thơ không chỉ ngắm cảnh mà còn gửi gắm trong đó một tâm sự buồn bã, kín đáo. Đó là nỗi buồn của một trí thức yêu nước, bất lực trước thời cuộc, chọn sống ẩn dật để giữ khí tiết thanh cao.
Nghệ thuật:
Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật chuẩn chỉnh, thể hiện khả năng vận dụng tài tình.
Hình ảnh thơ gần gũi với làng quê Việt.
Sử dụng từ láy và phép tu từ linh hoạt.
Bút pháp tả cảnh ngụ tình đậm nét cổ điển nhưng giàu cảm xúc cá nhân.
Kết luận:
“Thu vịnh” không chỉ là một bức tranh mùa thu mang vẻ đẹp thanh tĩnh, trong sáng mà còn là tiếng lòng của một con người giàu tâm sự, nặng lòng với đất nước nhưng đành chọn lối sống lánh đời. Qua bài thơ, ta càng thêm trân trọng tài năng và nhân cách cao quý của Nguyễn Khuyến – nhà thơ của làng quê, của lòng yêu nước thầm lặng và khí tiết thanh cao.
Nếu bạn cần đoạn văn ngắn gọn hơn (6–8 dòng) hoặc dàn ý bài này, mình có thể viết thêm theo yêu cầu nhé.
Quảng cáo
Bạn cần hỏi gì?
Câu hỏi hot cùng chủ đề
-
105051
-
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
81021 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
76645 -
Hỏi từ APP VIETJACK61790
-
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
48380 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
38179
