Quảng cáo
2 câu trả lời 185
Bài văn nghị luận phân tích, đánh giá tác phẩm Chí Phèo (Nam Cao)
Mở bài
Trong dòng văn học hiện thực phê phán 1930–1945, Nam Cao được coi là một trong những nhà văn xuất sắc nhất với khả năng khắc họa hiện thực trần trụi, đồng thời đào sâu vào số phận và đời sống nội tâm của con người. Truyện ngắn Chí Phèo là đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác của ông, không chỉ phơi bày bi kịch của những người nông dân nghèo bị tha hóa, bị cự tuyệt quyền làm người, mà còn gửi gắm tư tưởng nhân đạo mới mẻ, sâu sắc. Qua nhân vật Chí Phèo, Nam Cao đã dựng nên một bức tranh hiện thực đầy ám ảnh về xã hội thực dân nửa phong kiến và đặt ra những câu hỏi day dứt về con đường sống của con người trong vòng xoáy nghiệt ngã của nó.
Thân bài
Khắc họa chân thực số phận con người bị xã hội vùi dập
Chí Phèo vốn sinh ra là một đứa trẻ mồ côi, bị bỏ rơi ở lò gạch cũ, được dân làng truyền tay nhau nuôi. Lớn lên, anh làm canh điền hiền lành cho nhà Bá Kiến. Nhưng chỉ vì một ghen tuông mơ hồ, Chí bị đẩy vào tù. Ra khỏi nhà tù thực dân, anh từ một anh nông dân lương thiện trở thành kẻ “con quỷ dữ của làng Vũ Đại”. Với tiếng chửi, với con dao và những cơn say triền miên, Chí Phèo đi từ tha hóa nhân hình đến tha hóa nhân tính. Từ đó, Nam Cao phơi bày quy luật tàn nhẫn của xã hội đương thời: những thế lực cường quyền, tàn bạo đã đẩy con người vào chỗ bần cùng, biến nông dân lương thiện thành kẻ bị xã hội ruồng bỏ.
Bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người
Điều ám ảnh nhất trong Chí Phèo không chỉ là cảnh sống say rượu, chửi bới của nhân vật, mà là bi kịch bị từ chối trở lại làm người lương thiện. Lần gặp gỡ với Thị Nở đã đánh thức trong Chí một khát vọng giản dị: “Làm hòa với mọi người để lại được nhận vào xã hội của những người lương thiện”. Những bát cháo hành, sự chăm sóc vụng về của Thị đã thắp lên trong Chí niềm tin. Nhưng trớ trêu thay, định kiến xã hội (qua lời bà cô Thị Nở) đã dập tắt tia sáng ấy. Chí Phèo đau đớn nhận ra mình không thể quay lại làm người bình thường: “Ai cho tao lương thiện?”. Đó là tiếng kêu bi thương nhất, không chỉ của riêng Chí mà còn là tiếng kêu của cả một lớp người nông dân nghèo bị đẩy ra bên lề xã hội.
Tư tưởng nhân đạo mới mẻ của Nam Cao
Nếu như các nhà văn hiện thực trước đó thường dừng lại ở việc tố cáo xã hội bất công, Nam Cao đã đi xa hơn: ông phát hiện, khẳng định và trân trọng bản chất lương thiện, khát vọng được sống làm người của những con người tưởng như đã bị hủy hoại hoàn toàn. Qua chi tiết bát cháo hành, Nam Cao đã chứng minh rằng ngay cả khi bị vùi dập đến tận cùng, bản chất tốt đẹp trong con người vẫn còn cơ hội trỗi dậy. Tư tưởng nhân đạo ấy vừa xót xa vừa giàu hy vọng, thể hiện tầm vóc lớn lao trong sáng tác của Nam Cao.
Nghệ thuật đặc sắc của tác phẩm
Nghệ thuật xây dựng nhân vật bậc thầy: Nam Cao khắc họa Chí Phèo từ ngoại hình, hành động, ngôn ngữ đến diễn biến tâm lý, đặc biệt là sự biến đổi nội tâm phức tạp.
Nghệ thuật trần thuật linh hoạt, giàu tính hiện thực, kết hợp phân tích tâm lý sắc sảo.
Ngôn ngữ sống động, đời thường, nhiều chi tiết giàu sức gợi, làm bật tính chất “hiện thực trần trụi” nhưng vẫn thấm đẫm tinh thần nhân văn.
Kết bài
Chí Phèo không chỉ là bi kịch của một cá nhân mà còn là bản cáo trạng đanh thép đối với xã hội thực dân nửa phong kiến đã tước đoạt quyền sống của người nông dân. Đồng thời, tác phẩm cũng là bản anh hùng ca của tình thương, khi Nam Cao đã nhìn thấy ánh sáng nhân tính ngay trong bóng tối tăm nhất. Qua đó, Chí Phèo trở thành kiệt tác của văn học Việt Nam hiện đại, vừa phản ánh hiện thực, vừa chất chứa khát vọng nhân đạo sâu xa. Tác phẩm để lại trong lòng người đọc nỗi ám ảnh về số phận con người, đồng thời khơi gợi niềm tin vào những giá trị nhân bản bất diệt.
Tác phẩm có tình huống gặp gỡ hết sức độc đáo, lạ, chúng diễn ra trong hoàn cảnh nhà tù, vào những ngày cuối cùng của người tử tù Huấn Cao, một người mang chí lớn và tài năng lớn nhưng không gặp thời. Vị thế xã hội của hai nhân vật cũng có nhiều đối nghịch. Huấn Cao kẻ tử từ, muốn lật đổ trật tự xã hội đương thời. Còn quản ngục là người đứng đầu trại giam tỉnh Sơn, đại diện cho luật lệ, trật tự xã hội đương thời. Nhưng ở bình diện nghệ thuật, vị thế của họ lại đảo ngược nhau hoàn toàn: Huấn Cao là người có tài viết thư pháp, người sáng tạo ra cái đẹp, còn quản ngục là người yêu và trân trọng cái đẹp và người sáng tạo ra cái đẹp. Đó là mối quan hệ gắn bó khăng khít chặt chẽ với nhau. Với tình huống truyện đầy độc đáo, đã giúp câu chuyện phát triển logic, hợp lí đẩy lên đến cao trào. Qua đó giúp bộc lộ tính cách nhân vật và làm nổi bật chủ đề của truyện: Sự bất tử của cái đẹp, sự chiến thắng của cái đẹp. Sức mạnh cảm hóa của cái đẹp.
Nổi bật trong tác phẩm chính là Huấn Cao, người có tài viết chữ đẹp và nổi tiếng khắp nơi: “người mà vùng tỉnh Sơn ta vẫn khen cái tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp” tiếng tăm của ai khiến ai ai cũng biết đến. Cái tài của ông còn gắn liền với khát khao, sự nể trọng của người đời. Có được chữ của Huấn Cao là niềm mong mỏi của bất cứ ai, được treo chữ của ông trong nhà là niềm vui, niềm vinh dự lớn. Cái tài của Huấn Cao không chỉ dừng lại ở mức độ bình thường mà đã đạt đến độ phi thường, siêu phàm.
Không chỉ tài năng, vẻ đẹp của Huấn Cao còn là vẻ đẹp của thiên lương trong sáng: “Tính ông vốn khoảnh, trừ chỗ tri kỉ, ông ít chịu cho chữ”. “Khoảnh” ở đây có thể hiểu là sự kiêu ngạo về tài năng viết chữ, bởi ông ý thức được giá trị của tài năng, luôn tôn trọng từng con chữ mình viết ra. Mỗi chữ ông viết như một món quà mà thượng đế trao cho bản thân nên chỉ có thể dùng những chữ ấy để trao cho những tấm lòng trong thiên hạ. Trong đời ông, ông không vì uy quyền mà trao chữ cho ai bao giờ: “Ta nhất sinh không vì vàng ngọc hay quyền thế mà ép mình viết câu đối bao giờ”. Đặc biệt, tấm lòng thiên lương ấy còn thể hiện trong việc ông đồng ý cho chữ viên quản ngục: “Ta cảm tấm lòng biệt nhỡn liên tài của các người. Thiếu chút nữa ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ”, tấm lòng của Huấn Cao với những con người quý trọng cái đẹp, cái tài.
Ở Huấn Cao ta còn thấy được trong ông vẻ đẹp của một con người có nghĩa khí, khí phách hơn người. Ông là người giỏi chữ nghĩa nhưng không đi theo lối mòn, dám cầm đầu một cuộc đại phản, đối đầu với triều đình. Khi bị bắt ông vẫn giữ tư thế hiên ngang, trước lời đe dọa của tên lính áp giải tù, Huấn Cao không hề để tâm, coi thường, vẫn lạnh lùng chúc mũi gông đánh thuỳnh một cái xuống nền đá tảng… Khi viên quản ngục xuống tận phòng giam hỏi han ân cần, chu đáo, Huấn Cao tỏ ra khinh bạc đến điều: “Ngươi hỏi ta muốn gì, ta chỉ muốn có một điều, là nhà ngươi đừng đặt chân vào đây”. Vào thời điểm nhận tin dữ (ngày mai vào kinh chịu án chém), Huấn Cao bình tĩnh, mỉm cười.
Và đẹp đẽ nhất là cảnh cho chữ, cả ba vẻ đẹp của ông được hội tụ và tỏa sáng. Trên tấm vải trắng còn nguyên vẹn lần hồ, chữ Huấn Cao “vuông tươi tắn” nói lên hoài bão, tung hoành của một con người có khí phách. Ông không để tâm đến mọi điều xung quanh chỉ tập trung vào việc tạo ra những nét chữ tuyệt tác. Với việc quản ngục xin chữ, Huấn Cao cũng hiểu ra tấm lòng của quản ngục, trong những giây phút cuối đời đã viết chữ dành tặng viên quản ngục, dành tặng cho tấm lòng biệt nhỡn liên tài trong thiên hạ.
Viên quản ngục là người có số phận bi kịch. Ông vốn có tính cách dịu dàng, biết trọng những người ngay thẳng, nhưng lại phải sống trong tù – môi trường chỉ có tàn nhẫn, lừa lọc. Nhân cách cao đẹp của ông đối lập với hoàn cảnh sống tù đầy, bị giam hãm. Ông tự nhận thức về ki kịch của mình, bi kịch của sự lầm đường lạc lối, nhầm nghề. Nhưng dù vậy, trong quản ngục vẫn giữ được tâm hồn cao đẹp, tâm hồn của một người nghệ sĩ. Ông khao khát có được chữ của Huấn Cao để treo trong nhà, và nếu không xin được chữ ông Huấn quả là điều đáng tiếc. Nhưng xin được chữ của Huấn Cao là điều vô cùng khó khăn: bản thân ông là quản ngục, nếu có thái độ biệt nhỡn, hay xin chữ kẻ tử tù – Huấn Cao, chắc chắn sẽ gặp tai vạ. Hơn nữa Huấn Cao vốn “khoảnh” không phải ai cũng cho chữ.
Trong những ngày cuối cùng của ông Huấn, quản ngục có hành động bất thường, biệt nhỡn với người tử tù. Cũng như Huấn Cao, vẻ đẹp tâm hồn của quản ngục được thể hiện rõ nhất ở đoạn cho chữ. Ông trân trọng, ngưỡng mộ nên đã bất chấp tất cả để tổ chức một đêm xin chữ chưa từng có. Ba con người, ba nhân cách cao đẹp chụm lại chứng kiến những nét chữ dần dần hiện ra…, viên quản ngục khúm lúm cất từng đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ, với thái độ sùng kính, ngưỡng mộ cái đẹp. Trước những lời giảng giải của Huấn Cao, viên quản ngục chắp tay vái người tù một vái, “kẻ mê muội này xin bái lĩnh”.
Tác phẩm đã sáng tạo tình huống truyện vô cùng độc đáo. Với nghệ thuật xây dựng nhân vật đặc sắc, mỗi nhân vật mang một vẻ đẹp riêng, vẻ đẹp thiên lương, khí phách và trọng đãi người tài. Đồng thời tác phẩm cũng thành công khi Nguyễn Tuân đã gợi lên không khí cổ xưa nay chỉ còn vang bóng. Nhịp điệu câu văn chậm, thong thả, góp phần phục chế lại không khí cổ xưa của tác phẩm. Bút pháp đối lập tương phản vận dụng thành thục, tài hoa.
Qua truyện ngắn Chữ người tử tù, Nguyễn Tuân đã thể hiện niềm tin vào sự chiến thắng tất yếu của cái đẹp, cái thiên lương với cái xấu xa, tàn nhẫn. Đồng thời ông cũng thể hiện tấm lòng trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống, qua đó kín đáo bộc lộ lòng yêu nước. Với nghệ thuật xây dựng tình huống đắc sắc, ngôn ngữ tài hoa đã góp phần tạo nên sự thành công cho tác phẩm.
Quảng cáo
Bạn cần hỏi gì?
Câu hỏi hot cùng chủ đề
-
Hỏi từ APP VIETJACK212098
-
Hỏi từ APP VIETJACK160440
-
Đã trả lời bởi chuyên gia
136676 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
72632 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
49547 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
39475 -
Hỏi từ APP VIETJACK35269
-
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
34911
