Quảng cáo
2 câu trả lời 295
Trong nền văn học hiện đại nếu như chúng ta bắt gặp sự sắc sảo, mạnh mẽ, bứt phá trong thơ của Hồ Xuân Hương thì chắc hẳn rằng sẽ thấy được sự điềm tĩnh, nhẹ nhàng, trầm buồn của Bà Huyện Thanh Quan. Bài thơ “Qua đèo Ngang” tiêu biểu cho phong cách ấy.
Bài thơ được sáng tác khi tác giả vào Phú Xuân (Huế) nhận chức và đi qua đèo này. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là nỗi buồn man mác, nhớ nhà, nhớ quê hương và thương cho thân gái nơi đường xa. Bài thơ được sáng tác theo thể thất ngôn bát cú với cấu trúc đề, thực, luận kết.
Chỉ tám câu thơ nhưng nó đã diễn tả được hết cái thần thái, cái hồn của cảnh vật cũng như của con người khi đứng trước cảnh trời núi hiu quạnh và lòng người man mác như thế này. Hai câu đề gợi lên trước mắt người đọc khung cảnh hoang sơ nơi đèo Ngang:
“Bước tới đèo Ngang bóng xế tà
Cỏ cây chen lá, lá chen hoa”
Không gian và thời gian ở đèo Ngang được tác giả thể hiện qua từ "bóng xế tà". Có thể nói đây là thời gian là cảm xúc trong lòng người dường như nặng nề, gợi buồn, gợi sầu hơn. Trong ca dao, dân ca, chúng ta vẫn bắt gặp thời điểm chiều tả để đặc tả nỗi buồn không biết bày tỏ cùng ai. Mặt trời xuống núi, hoàng hôn sắp bao phủ lấy nơi này.
Cảm giác cô đơn, lạc lõng. Cảnh vật thiên nhiên nơi đây dường như quạnh quẽ đến nao lòng. Chỉ có cỏ cây và hoa. Điệp từ "chen" dường như đã làm tăng thêm tính chất hiu quạnh của địa danh này. Hoa lá đang quấn quýt lấy nhau, bám chặt nhau để sống, sinh sôi.
“Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông chợ mấy nhà”
Đến hai câu thực thì mới thấp thoáng hình ảnh con người, nhưng cũng chỉ là "tiều vài chú". Hóa ra chỉ là một vài chú tiều bé nhỏ đi nhặt củi ở dưới chân núi. Mặc dù có sự sống nhưng mong manh và hư vô quá. Với phép đảo trật tự cú pháp ở hai câu thơ này, Bà Huyện Thanh Quan đã một lần nữa nhấn mạnh sự hoang sơ, hiu quạnh của đèo Ngang.
Việc sử dụng hai từ láy "lom khom" và "lác đác" vừa chỉ hoạt động gánh củi vất vả vừa chỉ ước tính số lượng cụ thể. Những hình ảnh ước lệ trong thơ Bà Huyện Thanh Quan đã lột tả hết thần thái cũng như cảm xúc của tác giả lúc đó. Những sự sống hiếm hoi, lẻ loi và mong manh đang chờn vờn ở ngay trước mắt nhưng xa lắm. Muốn tìm bạn để tâm sự cũng trở nên khó khăn. Sang đến hai câu thơ luận thì cảm xúc và tâm sự của tác giả bỗng nhiên trỗi dậy
“Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia”
Điệp âm "con quốc quốc" và "cái gia gia" đã tạo nên âm hưởng dìu dặt, du dương nhưng vô cùng não nề thấm đến tâm can. Người lữ khách đường xa nghe văng vẳng tiếng cuốc và da da kêu mà lòng quạnh hiu, buồn tái tê. Thủ pháp lấy động tả tĩnh của tác giả thật đắc điệu, trên cái nền tĩnh lặng, quạnh quẽ bỗng nhiên có tiếng chim kêu thực sự càng thêm não nề và thê lương.
“Dừng chân nghỉ lại trời non nước
Một mảnh tình riêng ta với ta”
Chỉ bốn chữ "dừng chân nghỉ lại" cũng đã khiến người đọc cảm thấy da diết, bồn chồn đến não nề. Cảnh trời nước mênh mông, vô tận nhưng con người thì bé nhỏ khiến cho tác giả thấy mình lạc lõng và không một nơi bấu víu. Đất trời rộng lớn, tác giả chỉ cảm thấy còn "một mảnh tình riêng". Và cái mảnh tình con con ấy cũng chỉ có "ta với ta". Nỗi buồn dường như trở nên cực độ, buồn thấu tận tâm can, buồn nghiêng ngả trời đất.
Bài thơ “Qua Đèo Ngang” với giọng điệu da diết, trầm bổng, du dương và những thủ pháp nghệ thuật độc đáo đã mang đến cho người đọc cảm xúc khó quên. Dư âm của bài thơ dường như còn vang vọng đâu đây.
Bài thơ "Qua Đèo Ngang" của Bà Huyện Thanh Quan (Đoàn Thị Điểm) là một tác phẩm nổi tiếng trong nền thơ ca Việt Nam, thể hiện tâm tư, cảm xúc của người phụ nữ trước vẻ đẹp thiên nhiên và nỗi nhớ quê hương xa xăm.
1. Bố cục bài thơ
Bài thơ có 4 câu đầu và 4 câu sau, trong đó:
4 câu đầu: Tập trung vào cảnh sắc thiên nhiên của Đèo Ngang.
4 câu sau: Bộc lộ tâm trạng của tác giả, sự hoài niệm và nỗi cô đơn.
2. Nội dung và ý nghĩa
Cảnh sắc thiên nhiên:
Hai câu thơ đầu miêu tả cảnh Đèo Ngang: "Một tầng mây trắng, một lớp mù", cho thấy sự hùng vĩ nhưng cũng có phần u buồn của núi rừng. Tác giả không chỉ dùng hình ảnh mà còn sử dụng âm thanh: tiếng gió, âm thanh của núi rừng, tạo nên không khí thanh vắng và sâu lắng.
Cảnh thiên nhiên vừa hùng vĩ vừa thơ mộng. Hình ảnh "nhìn xuống" thể hiện cái nhìn từ cao, tạo cảm giác bao quát, nhưng cũng mang đến nỗi cô đơn.
Nỗi nhớ quê hương:
Hai câu cuối thể hiện nỗi niềm riêng của tác giả: "Nhớ nước, nhớ nhà" là một nỗi nhớ thống thiết, cùng với hình ảnh "khách đường xa" cho thấy sự xa lạ trong không gian mới mẻ.
Tình cảnh "cảnh buồn, tình cô" tạo nên một tâm trạng sâu lắng, vừa hòa vào thiên nhiên vừa chìm đắm trong nỗi nhớ quê.
3. Tốp thể thơ và nghệ thuật
Thể thơ: Bài thơ được viết theo thể lục bát, cân đối và hài hòa, phù hợp với nội dung tâm trạng của bài thơ.
Biện pháp nghệ thuật: Tác giả sử dụng nhiều hình ảnh ẩn dụ, so sánh, điệp từ để nhấn mạnh cảm xúc. Cách dùng từ "khách" thể hiện sự xa lạ, khác biệt giữa người phụ nữ và quê hương của mình.
4. Tâm trạng của tác giả
Bà Huyện Thanh Quan là một người phụ nữ của thế kỷ 19, sống trong bối cảnh lịch sử có nhiều biến động. Qua bài thơ, ta cảm nhận được tâm hồn nhạy cảm của tác giả, sự hòa quyện giữa thiên nhiên và lòng người. Nỗi nhớ quê hương, niềm khao khát về một nơi chốn thân thương, cùng với vẻ đẹp của thiên nhiên đã khắc họa chân thực tâm trạng của người phụ nữ trong xã hội phong kiến.
5. Kết luận
Bài thơ "Qua Đèo Ngang" không chỉ là một tác phẩm nghệ thuật mà còn là một bức tranh tinh tế về tâm hồn người phụ nữ, thể hiện sự giao hòa giữa thiên nhiên và nỗi lòng con người. Thông qua đó, ta thấy được sự sâu sắc của tư duy cảm xúc mà Bà Huyện Thanh Quan đã gửi gắm vào tác phẩm, làm cho bài thơ trở thành một kiệt tác trong nền văn học Việt Nam.
Quảng cáo
Bạn cần hỏi gì?
Câu hỏi hot cùng chủ đề
-
105051
-
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
81021 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
76645 -
Hỏi từ APP VIETJACK61790
-
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
48380 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
38179
