Quảng cáo
2 câu trả lời 3135
Nhà thơ Lí Bạch được tôn sung và gọi là Thi tiên thì đối với nhà thơ Đỗ Phủ lại được tôn là thi thánh. Thơ Lí Bạch thường vươn tới lý tưởng cao đẹp, khát vọng giải phóng cá tính còn khi đọc thơ Đỗ Phủ ta lại cảm nhận thấy có được một nỗi như thật trầm uất, như thật nghẹn ngào biết bao nhiêu khi ông đã miêu tả được bức tranh hiện thực đến đỉnh điểm và còn được nhắc nhớ đến cái tên “thi sử”. Trong bài thơ “Thu hứng” cũng đã thể hiện được sự đồng cảm của nhà thơ với nhân dân trong khổ nạn, đồng thời như cũng lại chứa chan tình yêu nước và tinh thần nhân đạo. Tiêu biểu cho tư tưởng ấy là bài thơ Thu hứng.
Đọc bài thơ “Thu hứng” ở đó ta không những bắt gặp bức tranh về mùa thu hiu hắt mà còn cảm nhận được bức tranh về tâm trạn buồn lo của nhà thơ trong cảnh loạn li. Ở đó có những nỗi lo âu cho đất nước, nỗi buồn nhớ quê hương và nỗi ngậm ngùi xót xa cho thân phận mình.
Có thể thấy được vốn dĩ là nhà thơ giàu cảm xúc, Đỗ Phũ dường như đã đặt hết mọi nỗi niềm của mình vào cây bút. Đứng trước cảnh mùa thu ảm đạm và đượm buồn, thế rồi cảnh vật thiên nhiên hiện lên trong con mắt của vị thi thánh cũng thật u sầu và sâu thẳm:
Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm
Vu sơn, Vu giáp khí tiêu sâm
Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng
Tái thượng phong vân tiếp địa âm.
Dịch thơ:
Lác đác rừng phong hạt móc sa,
Ngàn non hiu hắt, khí thu lòa
Lưng trời sóng rợn lòng sông thẳm
Mặt đất mây đùn cửa ải xa
Qua mấy câu thơ thôi, chỉ một vài nét bút gợi tả khiến cho người đọc có thể cảm nhận thấy được một bức tranh hiu hắt về cảnh sắc mùa thư. Cảnh sắc mùa thu như được hiện ra trước mắt người đọc và ta nhận thấy được ở đó một hiện tượng đều mang dáng vẻ của mùa thu, buồn và gợi nhắc. Đó là cảnh của rừng phong hiu hắt, sóng rợn lòng sông thẳm, hay đó còn là hình ảnh mây đùn cửa ải xa. Thông qua đây ta nhận thấy được tất cả đều được nhìn dưới con mắt u buồn của nhà thơ. Cái nhìn ấy rất xa xăm, rộng lớn. Hình ảnh dòng sông sâu như nỗi lòng sâu thẳm trong ông. Mỗi một cảnh vật đều được gắn với một tính từ dường như đã lột tả được mang đậm chất sầu và buồn. Đúng như Nguyễn Du từng viết:
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.
Tác giả Đỗ Phủ cũng vậy, cả cuộc đời ông sống nghèo khó, nay lại chứng kiến cảnh loạn li. Đứng giữa đất trời mùa thu hiu hắt, có hồn thơ nào tránh được một nỗi xót xa:
Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ
Cô chu nhất hệ cố viên tâm.
Hàn y xứ xứ thôi đao xích,
Bạch Đế thành cao cấp mộ châm.
Dịch thơ:
Khóm cúc tuôn thêm dòng lệ cũ,
Con thuyền buộc chặt mối tình nhà
Lạnh lùng giục kẻ tay dao thước
Thành Bạch, chày vang bóng ác tà
Thông qua câu thơ người đọc thấy rằng có vẻ như Đỗ Phủ đang cúi đầu nhìn về những thứ ở gần mình hơn, cụ thể hơn. Hình ảnh một khóm cúc tuôn thêm dòng lệ cũ, một con thuyền buộc chặt mối tình nhà. Tất cả dường như cũng cứ tiếp nối dòng cảm xúc buồn bã của bốn câu thơ trước, nhà thơ như đang trải lòng mình trước những cảnh vật đơn chiếc, lẻ loi. Hồn thơ của tác giả Đỗ Phủ đã tan vào cảnh vật, khiến chúng mang những nỗi niềm giống như ông. Dòng lệ kia đâu phải lệ của khóm cúc mà chính là giọt lệ buồn và lúc này dường như cũng cứ đang thầm chảy trong tim của người đang nhớ nhà, nhớ quê hương. Nỗi niềm ấy được tác giả buộc chặt vào con thuyền đang đứng một mình trước mắt ông. Hình ảnh con thuyền ấy có bao giờ chở che được tình cảm và nỗi lòng nhớ nhung da diết của nhà thơ khi về với xứ xa thân thuộc ngày nào? Lúc này đây nhà thơ như đang buồn,đang nhớ, tiếng chày đập áo lại vang lên càng làm cho cảnh thu thêm khắc khoải, buồn thương.
Trong cả câu thơ thì có một tiếng động duy nhất trong toàn bộ bức tranh đã khiến cho lòng người nhói đau. Tiếng động này giống như tiếng khóc không thành lời của người con xa xứ giờ mong được trở về nhưng không thể về được.
Chính việc sử dụng những hình ảnh chân thật, và tình cảm sâu sắc với quê hương, với nước nhà, tác giả Đỗ Phủ đã vẽ lên một bức tranh thiên nhiên tuy không sắc nét, đồng thời ông cũng không nhiều màu mè nhưng lại thấm đượm nỗi niềm và tình cảm của ông. Có thể nói rằng chính cả cuộc đời ông có lẽ là những vần thơ buồn, cho tới khi nhắm mắt xuôi tay lúc này đây ông cũng chỉ có một mình lẻ loi.
Chỉ với tám câu thơ Đường luật ngắn gọn đã mở ra cho người đọc một nỗi niềm lớn lao của Đỗ Phủ. Đó là một sự khắc khoải, lo âu khi đất nước rơi vào tình cảnh loạn li, đồng thời cũng còn là một nỗi ngậm ngùi xót xa cho thân phận mình bọt bèo cay đắng.
Nhà thơ Lí Bạch được tôn sung và gọi là Thi tiên thì đối với nhà thơ Đỗ Phủ lại được tôn là thi thánh. Thơ Lí Bạch thường vươn tới lý tưởng cao đẹp, khát vọng giải phóng cá tính còn khi đọc thơ Đỗ Phủ ta lại cảm nhận thấy có được một nỗi như thật trầm uất, như thật nghẹn ngào biết bao nhiêu khi ông đã miêu tả được bức tranh hiện thực đến đỉnh điểm và còn được nhắc nhớ đến cái tên “thi sử”. Trong bài thơ “Thu hứng” cũng đã thể hiện được sự đồng cảm của nhà thơ với nhân dân trong khổ nạn, đồng thời như cũng lại chứa chan tình yêu nước và tinh thần nhân đạo. Tiêu biểu cho tư tưởng ấy là bài thơ Thu hứng.
Đọc bài thơ “Thu hứng” ở đó ta không những bắt gặp bức tranh về mùa thu hiu hắt mà còn cảm nhận được bức tranh về tâm trạn buồn lo của nhà thơ trong cảnh loạn li. Ở đó có những nỗi lo âu cho đất nước, nỗi buồn nhớ quê hương và nỗi ngậm ngùi xót xa cho thân phận mình.
Có thể thấy được vốn dĩ là nhà thơ giàu cảm xúc, Đỗ Phũ dường như đã đặt hết mọi nỗi niềm của mình vào cây bút. Đứng trước cảnh mùa thu ảm đạm và đượm buồn, thế rồi cảnh vật thiên nhiên hiện lên trong con mắt của vị thi thánh cũng thật u sầu và sâu thẳm:
Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm
Vu sơn, Vu giáp khí tiêu sâm
Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng
Tái thượng phong vân tiếp địa âm.
Dịch thơ:
Lác đác rừng phong hạt móc sa,
Ngàn non hiu hắt, khí thu lòa
Lưng trời sóng rợn lòng sông thẳm
Mặt đất mây đùn cửa ải xa
Qua mấy câu thơ thôi, chỉ một vài nét bút gợi tả khiến cho người đọc có thể cảm nhận thấy được một bức tranh hiu hắt về cảnh sắc mùa thư. Cảnh sắc mùa thu như được hiện ra trước mắt người đọc và ta nhận thấy được ở đó một hiện tượng đều mang dáng vẻ của mùa thu, buồn và gợi nhắc. Đó là cảnh của rừng phong hiu hắt, sóng rợn lòng sông thẳm, hay đó còn là hình ảnh mây đùn cửa ải xa. Thông qua đây ta nhận thấy được tất cả đều được nhìn dưới con mắt u buồn của nhà thơ. Cái nhìn ấy rất xa xăm, rộng lớn. Hình ảnh dòng sông sâu như nỗi lòng sâu thẳm trong ông. Mỗi một cảnh vật đều được gắn với một tính từ dường như đã lột tả được mang đậm chất sầu và buồn. Đúng như Nguyễn Du từng viết:
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.
Tác giả Đỗ Phủ cũng vậy, cả cuộc đời ông sống nghèo khó, nay lại chứng kiến cảnh loạn li. Đứng giữa đất trời mùa thu hiu hắt, có hồn thơ nào tránh được một nỗi xót xa:
Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ
Cô chu nhất hệ cố viên tâm.
Hàn y xứ xứ thôi đao xích,
Bạch Đế thành cao cấp mộ châm.
Dịch thơ:
Khóm cúc tuôn thêm dòng lệ cũ,
Con thuyền buộc chặt mối tình nhà
Lạnh lùng giục kẻ tay dao thước
Thành Bạch, chày vang bóng ác tà
Thông qua câu thơ người đọc thấy rằng có vẻ như Đỗ Phủ đang cúi đầu nhìn về những thứ ở gần mình hơn, cụ thể hơn. Hình ảnh một khóm cúc tuôn thêm dòng lệ cũ, một con thuyền buộc chặt mối tình nhà. Tất cả dường như cũng cứ tiếp nối dòng cảm xúc buồn bã của bốn câu thơ trước, nhà thơ như đang trải lòng mình trước những cảnh vật đơn chiếc, lẻ loi. Hồn thơ của tác giả Đỗ Phủ đã tan vào cảnh vật, khiến chúng mang những nỗi niềm giống như ông. Dòng lệ kia đâu phải lệ của khóm cúc mà chính là giọt lệ buồn và lúc này dường như cũng cứ đang thầm chảy trong tim của người đang nhớ nhà, nhớ quê hương. Nỗi niềm ấy được tác giả buộc chặt vào con thuyền đang đứng một mình trước mắt ông. Hình ảnh con thuyền ấy có bao giờ chở che được tình cảm và nỗi lòng nhớ nhung da diết của nhà thơ khi về với xứ xa thân thuộc ngày nào? Lúc này đây nhà thơ như đang buồn,đang nhớ, tiếng chày đập áo lại vang lên càng làm cho cảnh thu thêm khắc khoải, buồn thương.
Trong cả câu thơ thì có một tiếng động duy nhất trong toàn bộ bức tranh đã khiến cho lòng người nhói đau. Tiếng động này giống như tiếng khóc không thành lời của người con xa xứ giờ mong được trở về nhưng không thể về được.
Chính việc sử dụng những hình ảnh chân thật, và tình cảm sâu sắc với quê hương, với nước nhà, tác giả Đỗ Phủ đã vẽ lên một bức tranh thiên nhiên tuy không sắc nét, đồng thời ông cũng không nhiều màu mè nhưng lại thấm đượm nỗi niềm và tình cảm của ông. Có thể nói rằng chính cả cuộc đời ông có lẽ là những vần thơ buồn, cho tới khi nhắm mắt xuôi tay lúc này đây ông cũng chỉ có một mình lẻ loi.
Chỉ với tám câu thơ Đường luật ngắn gọn đã mở ra cho người đọc một nỗi niềm lớn lao của Đỗ Phủ. Đó là một sự khắc khoải, lo âu khi đất nước rơi vào tình cảnh loạn li, đồng thời cũng còn là một nỗi ngậm ngùi xót xa cho thân phận mình bọt bèo cay đắng.
Quảng cáo
Bạn cần hỏi gì?
Câu hỏi hot cùng chủ đề
-
105769
-
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
81851 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
77802 -
Hỏi từ APP VIETJACK62392
-
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
49078 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
38653
