Quảng cáo
4 câu trả lời 125
1. Ý nghĩa nhan đề
Giải thích nhan đề: "thuật" nghĩa là bày tỏ, "hoài" nghĩa là nỗi lòng. Nhan đề có ý nghĩa là bày tỏ nỗi lòng.
Đề tài: Thơ tỏ chí - chí làm trai với lí tưởng trung quân ái quốc.
2. Phân tích chi tiết văn bài thơ
a. Hình tượng con người và sức mạnh quân đội nhà Trần.
Hình tượng con người thời Trần:
Hành động: hoành sóc – cầm ngang ngọn giáo. Tư thế hùng dũng, oai nghiêm, hiên ngang sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc
Không gian kì vĩ: giang sơn – non sông. Không gian rộng lớn, mênh mông, nó không đơn thuần là sông, là núi mà là giang sơn, đất nước, Tổ quốc
Thời gian kì vĩ: kháp kỉ thu – đã mấy thu. Thời gian dài đằng đẵng, không biết đã bao nhiêu mùa thu, bao nhiêu năm đi qua, thể hiện quá trình đấu tranh bền bỉ, lâu dài.
Như vậy, hình ảnh người tráng sĩ cho thấy một tư thế hiên ngang, mạnh mẽ, hào hùng, sẵn sàng lập nên những chiến công vang dội. Hình ảnh, tầm vó những người tráng sĩ ấy sánh với núi sông, đất nước, với tầm vóc hùng vĩ của vũ trụ. Người tráng sĩ ấy ra đi bảo vệ Tổ quốc ròng rã mấy năm trời mà chưa từng một giây phút nào cảm thấy mệt mỏi mà trái lại vẫn bừng bừng khí thế hiên ngang, bất khuất, hùng dũng.
Hình tượng quân đội thời Trần:
“Tam quân” (ba quân): tiền quân, trung quân, hậu quân – quân đội của cả đất nước, cả dân tộc cùng nhau đứng lên để chiến đấu.
Sức mạnh của quân đội nhà Trần:
Hình ảnh quân đội nhà Trần được so sánh với “tì hổ” (hổ báo) qua đó thể hiện sức mạnh hùng dũng, dũng mãnh của đội quân.
“Khí thôn ngưu”: khí thế hào hùng, mạnh mẽ lấn át cả trời cao, cả không gian vũ trụ bao la, rộng lớn.
Với các hình ảnh so sánh, phóng đại độc đáo, sự kết hợp giữa hiện thực và lãng mạn, giữa hình ảnh khách quan với cảm nhận chủ quan đã cho thấy sức mạnh và tầm vóc của quân đội nhà Trần.
Chốt lại, hai câu thơ đầu đã cho thấy hình ảnh người tráng sĩ hùng dũng, oai phong cùng tầm vóc mạnh mẽ và sức mạnh của quân đội nhà Trần. Nghệ thuật so sánh phong đại cùng giọng điệu hào hùng mang lại hiệu quả cao.
b. Nỗi lòng muốn bày tỏ của tác giả
Giọng điệu: trầm lắng, suy tư, qua đó bộc lộ tâm trạng băn khoăn, trăn trở.
Nợ công danh: Theo quan niệm nhà Nho, đây là món nợ lớn mà một trang nam nhi khi sinh ra đã phải mang trong mình. Nó gồm 2 phương diện: Lập công (để lại chiến công, sự nghiệp), lập danh (để lại danh thơm cho hậu thế). Kẻ làm trai phải làm xong hai nhiệm vụ này mới được coi là hoàn trả món nợ.
Theo quan niệm của Phạm Ngũ Lão, làm trai mà chưa trả được nợ công danh “thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu”. Từ "thẹn" ở đây nghĩa là cảm thấy xấu hổ, thua kém với người khác. Chuyện Vũ Hầu là một điển tích về Khổng Minh - tấm gương về tinh thần tận tâm tận lực báo đáp chủ tướng. Hết lòng trả món nợ công danh đến hơi thở cuối cùng, để lại sự nghiệp vẻ vang và tiếng thơm cho hậu thế. Ta có thể hiểu nỗi thẹn của Phạm Ngũ Lão hết sức cao cả của một nhân cách lớn. Thể hiện khát khao, hoài bão hướng về phía trước để thực hiện lí tưởng, nó đánh thức ý chí làm trai, chí hướng lập công cho các trang nam tử.
Với âm hưởng trầm lắng, suy tư và việc sử dụng điển cố điển tích, hai câu thơ cuối đã thể hiện tâm tư và khát vọng lập công của Phạm Ngũ Lão cùng quan điểm về chí làm trai rất tiến bộ của ông.
3. Tổng kết:
Nội dung: Tỏ lòng là bài thơ Đường luật ngắn gọn, đạt tới trình độ súc tích cao, khắc họa được vẻ đẹp của con người có sức mạnh, có lí tượng, nhân cách cao cả cùng khí thế hào hùng của thời đại.
Nghệ thuật: Thủ pháp gợi, thiên về ấn tượng bao quát, hàm súc; bút pháp nghệ thuật hoành tráng có tính sử thi với hình tượng thơ lớn lao, kì vĩ.
Ý nghĩa: Sống phải có hoài bão, ước mơ và biết mơ ước những điều lớn lao; gắn khát vọng, lợi ích của bản thân với lợi ích của tổ quốc, nhân dân.
1. Ý nghĩa nhan đề
Giải thích nhan đề: "thuật" nghĩa là bày tỏ, "hoài" nghĩa là nỗi lòng. Nhan đề có ý nghĩa là bày tỏ nỗi lòng.
Đề tài: Thơ tỏ chí - chí làm trai với lí tưởng trung quân ái quốc.
2. Phân tích chi tiết văn bài thơ
a. Hình tượng con người và sức mạnh quân đội nhà Trần.
Hình tượng con người thời Trần:
Hành động: hoành sóc – cầm ngang ngọn giáo. Tư thế hùng dũng, oai nghiêm, hiên ngang sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc
Không gian kì vĩ: giang sơn – non sông. Không gian rộng lớn, mênh mông, nó không đơn thuần là sông, là núi mà là giang sơn, đất nước, Tổ quốc
Thời gian kì vĩ: kháp kỉ thu – đã mấy thu. Thời gian dài đằng đẵng, không biết đã bao nhiêu mùa thu, bao nhiêu năm đi qua, thể hiện quá trình đấu tranh bền bỉ, lâu dài.
Như vậy, hình ảnh người tráng sĩ cho thấy một tư thế hiên ngang, mạnh mẽ, hào hùng, sẵn sàng lập nên những chiến công vang dội. Hình ảnh, tầm vó những người tráng sĩ ấy sánh với núi sông, đất nước, với tầm vóc hùng vĩ của vũ trụ. Người tráng sĩ ấy ra đi bảo vệ Tổ quốc ròng rã mấy năm trời mà chưa từng một giây phút nào cảm thấy mệt mỏi mà trái lại vẫn bừng bừng khí thế hiên ngang, bất khuất, hùng dũng.
Hình tượng quân đội thời Trần:
“Tam quân” (ba quân): tiền quân, trung quân, hậu quân – quân đội của cả đất nước, cả dân tộc cùng nhau đứng lên để chiến đấu.
Sức mạnh của quân đội nhà Trần:
Hình ảnh quân đội nhà Trần được so sánh với “tì hổ” (hổ báo) qua đó thể hiện sức mạnh hùng dũng, dũng mãnh của đội quân.
“Khí thôn ngưu”: khí thế hào hùng, mạnh mẽ lấn át cả trời cao, cả không gian vũ trụ bao la, rộng lớn.
Với các hình ảnh so sánh, phóng đại độc đáo, sự kết hợp giữa hiện thực và lãng mạn, giữa hình ảnh khách quan với cảm nhận chủ quan đã cho thấy sức mạnh và tầm vóc của quân đội nhà Trần.
Chốt lại, hai câu thơ đầu đã cho thấy hình ảnh người tráng sĩ hùng dũng, oai phong cùng tầm vóc mạnh mẽ và sức mạnh của quân đội nhà Trần. Nghệ thuật so sánh phong đại cùng giọng điệu hào hùng mang lại hiệu quả cao.
b. Nỗi lòng muốn bày tỏ của tác giả
Giọng điệu: trầm lắng, suy tư, qua đó bộc lộ tâm trạng băn khoăn, trăn trở.
Nợ công danh: Theo quan niệm nhà Nho, đây là món nợ lớn mà một trang nam nhi khi sinh ra đã phải mang trong mình. Nó gồm 2 phương diện: Lập công (để lại chiến công, sự nghiệp), lập danh (để lại danh thơm cho hậu thế). Kẻ làm trai phải làm xong hai nhiệm vụ này mới được coi là hoàn trả món nợ.
Theo quan niệm của Phạm Ngũ Lão, làm trai mà chưa trả được nợ công danh “thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu”. Từ "thẹn" ở đây nghĩa là cảm thấy xấu hổ, thua kém với người khác. Chuyện Vũ Hầu là một điển tích về Khổng Minh - tấm gương về tinh thần tận tâm tận lực báo đáp chủ tướng. Hết lòng trả món nợ công danh đến hơi thở cuối cùng, để lại sự nghiệp vẻ vang và tiếng thơm cho hậu thế. Ta có thể hiểu nỗi thẹn của Phạm Ngũ Lão hết sức cao cả của một nhân cách lớn. Thể hiện khát khao, hoài bão hướng về phía trước để thực hiện lí tưởng, nó đánh thức ý chí làm trai, chí hướng lập công cho các trang nam tử.
Với âm hưởng trầm lắng, suy tư và việc sử dụng điển cố điển tích, hai câu thơ cuối đã thể hiện tâm tư và khát vọng lập công của Phạm Ngũ Lão cùng quan điểm về chí làm trai rất tiến bộ của ông.
3. Tổng kết:
Nội dung: Tỏ lòng là bài thơ Đường luật ngắn gọn, đạt tới trình độ súc tích cao, khắc họa được vẻ đẹp của con người có sức mạnh, có lí tượng, nhân cách cao cả cùng khí thế hào hùng của thời đại.
Nghệ thuật: Thủ pháp gợi, thiên về ấn tượng bao quát, hàm súc; bút pháp nghệ thuật hoành tráng có tính sử thi với hình tượng thơ lớn lao, kì vĩ.
Ý nghĩa: Sống phải có hoài bão, ước mơ và biết mơ ước những điều lớn lao; gắn khát vọng, lợi ích của bản thân với lợi ích của tổ quốc, nhân dân.
Quảng cáo
Bạn cần hỏi gì?
Câu hỏi hot cùng chủ đề
-
Hỏi từ APP VIETJACK212234
-
Hỏi từ APP VIETJACK160647
-
Đã trả lời bởi chuyên gia
136766 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
72829 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
49675 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
39798 -
Hỏi từ APP VIETJACK35312
-
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
34955
