Giúp mình với m.n ơi
Quảng cáo
4 câu trả lời 993
Dải đất hình chữ S của đất nước Việt Nam với biết bao nhiêu đặc sản dân tộc, từ vùng cao cho tới đồng bằng mỗi vùng miền lại có những món ăn khác nhau. Nhắc đến Hà Nội thì Phở là món ăn mà bất kỳ ai cũng phải thử một lần. Phở không chỉ là một món ăn bình thường mà nó chính là đại diện của bản sắc văn hóa ẩm thực của dân tộc Việt Nam trên trường quốc tế.
Hiện không có tư liệu chính xác về nguồn gốc của phở, nhưng nhiều người cho rằng món ăn xuất hiện vào đầu thế kỷ 20. Có quan điểm cho rằng, phở bắt nguồn từ món xáo trâu của người Việt. Cũng có quan điểm nói nguồn gốc của phở là phương pháp chế biến thịt bò hầm của Pháp hoặc là từ món ăn Quảng Đông. Mặc dù về nguồn gốc của phở vẫn chưa có tư liệu chính xác, nhưng vào những năm 40 của thế kỷ 20 thì phở đã là một món ăn rất nổi tiếng tại Hà Nội, Nam Định.
Theo thời gian phát triển của đất nước, phở cũng có nhiều biến chuyển, nếu trước kia là những bát phở bò chính, thì bây giờ đã có thêm phở tái, phở gà, phở xào, phở cuốn, phở rán,…và rất nhiều các loại phở khác nhau, giúp làm phong phú cho món ăn của nền ẩm thực Việt.
Phở mang nhiều hương vị khác nhau, phụ thuộc vào người chế biến món ăn. Thành phần chính để tạo nên món phở truyền thống bao gồm bánh phở và nước dùng. Bánh phở là những sợi được chế biến từ gạo, màu trắng và hình dẹt. Nước dùng có mùi thơm từ thảo quả nướng, hồi, quế, gừng và vị ngọt từ xương lợn ninh nhừ. Cho phở đã trần qua nước vào bát, thái mỏng thịt bò hoặc thịt gà trần nước nóng rồi cho vào bát phở. Cho nước dùng vào là đã có một bát phở thơm ngon, nóng hổi.
Một bát phở ngon yếu tố quyết định nằm ở nước dùng, vì thế khâu chuẩn bị chế biến nước dùng phải thật kỹ lưỡng. Từ việc chọn xương đến ninh xương, nêm nếm gia vị đều phải đảm bảo độ chính xác. Nước dùng phải có vị ngọt từ dương, có mùi thơm và màu trong mới đạt tiêu chuẩn. Điều này đòi hỏi người chế biến phải có kinh nghiệm và đôi khi cần có thêm “bí quyết gia truyền”. Khi ăn phở, người ta sẽ vắt một chút chanh và ăn kèm với rau thơm, tất cả hòa quyện vào nhau khiến bát phở ngon đúng điệu, thỏa mãn những thực khách tứ phương.
Phở đã trở thành một đặc trưng của ẩm thực dân tộc Việt Nam nói chung và của Hà Nội nói riêng. Dù là Xuân – Hạ hay Thu – Đông, buổi sáng – buổi trưa hay buổi tối, bất cứ khi nào chúng ta cũng có thể thưởng thức phở. Dù đi đâu, hình ảnh quán phở với hương vị đặc trưng đã trở thành một phần không thể thiếu trong tâm hồn người con Việt. Bạn bè trên thế giới đến với Việt Nam, ai cũng phải một lần thử qua món phở nếu không đó sẽ là một chuyến đi không trọn vẹn. Phở cũng xuất hiện trong rất nhiều tác phẩm của các nhà văn nhà thơ như Vũ Bằng, Thạch Lam…. Trong ca dao, dân ca phở cũng đi vào như một giá trị tinh thần thiết yếu của người dân.
Đã bao thế hệ đi qua, dưới đôi tay khéo léo của người đầu bếp, phở vẫn vẹn nguyên. Bát phở nghi ngút khói cùng mùi thơm đặc trưng đã lặng lẽ khắc ghi trong trái tim mỗi người con Việt Nam – là niềm tự hào của cả dân tộc.
Là đại diện của nền văn hóa ẩm thực cũng như tín ngưỡng tâm linh của dân tộc Việt Nam, bánh chưng là một món ăn quen thuộc trong đời sống của mỗi gia đình người Việt. Đặc biệt là vào dịp Tết đến Xuân về, hình ảnh chiếc bánh chưng xanh luôn hiện diện, tượng trưng cho niềm hạnh phúc, may mắn và sum vầy.
Phong bánh chưng ngày Tết được bày trên mâm cúng tổ tiên đã trở thành một mỹ tục. Nguồn gốc của bánh chưng gắn liền với sự tích chàng hoàng tử Lang Liêu đời vua Hùng thứ 6. Chàng đã dùng lúa nếp làm nên những chiếc bánh chưng, bánh dày thay cho các thứ sơn hào, hải vị dâng tiến vua cha. Bánh chưng mộc mạc, giản dị nhưng lại mang một ý nghĩa to lớn, nó thể hiện lòng thành kính, sự tự hào của con cháu đối với ông bà, tổ tiên.
Trong dịp Tết Nguyên Đán, không có gia đình Việt Nam nào thiếu vắng cặp bánh chưng xanh trên mâm cúng ông bà, ông vải. Để gói ra được chiếc bánh chưng vuông vắn, xanh mượt không phải là điều đơn giản. Đầu tiên cần phải phải chuẩn bị nguyên liệu: gạo nếp (có hạt tròn đều, chắc, nên chọn nếp cái hoa vàng để gói bánh chưng), thịt lợn (thịt ba chỉ tươi ngon, sạch), đậu xanh (không vỏ), lá dong (kích thước vừa phải, chọn loại tươi xanh, rửa sạch và phơi cho ráo nước) và lạt buộc )làm bằng giang, chẻ mỏng, có thể mua lạt đã được chẻ sẵn).
Nguyên liệu sau khi chuẩn bị đầy đủ, chúng ta sẽ bắt đầu công đoạn gói bánh chưng. Cách gói bánh chưng đối với nhiều người có thể đơn giản nhưng với một số người lại khá khó khăn. Để gói được chiếc bánh đẹp đòi hỏi người gói phải có kinh nghiệm, khéo léo và cẩn thận. Đầu tiên dùng 2 lá dong xếp thành hình dấu cộng, sau đó cho gạo nếp vào và san đều. Sau lớp gạo nếp là lớp đậu bên trong, rồi đặt vào đó 2 – 3 miếng thịt, tiếp đó cho một lớp đậu và cuối cùng là một lớp gạo. Khéo léo bẻ 4 góc lại cho vuông rồi bộc lạt vào.
Khi đã xong xuôi đâu vào đấy, ta chuẩn bị cho khâu nấu bánh chưng, thời gian để bánh chín sẽ kéo dài từ 10 – 12 giờ. Trong quá trình đun, thi thoảng phải kiểm tra nước, nếu thấy nước cạn thì phải đổ thêm sao cho nước luôn ngập bánh. Đối với những chiếc bánh ở trên nên được lật giở để bánh được chín đều. Sau khi bánh chín, vớt ra và rửa lướt qua để loại bỏ lớp mỡ dính trên bề mặt vỏ. Sau đó xếp bánh lên mặt phẳng và lấy một mặt phẳng nặng khác đè lên để ép hết nước trong bánh ra ngoài. Thông thường sẽ ép khoảng 2 – 3 giờ đồng hồ, sau đó phải nắn bánh sao cho vuông vắn và đẹp mắt.
Với sự đa dạng của ẩm thực, bánh chưng ngày nay được phát triển thành nhiều loại, ngoài bánh chưng truyền thống còn có bánh chưng cốm, bánh chưng gấc, bánh chưng ngũ sắc,… Mặc dù có nhiều loại khác nhau nhưng chúng đều mang trong mình một ý nghĩ thiêng liêng, tượng trưng cho đất mẹ bao la, có đầy đủ nguyên liệu gạo thịt tượng trưng cho muôn loài.
Bánh chưng là một sản vật quý giá mà ông cha ta để lại, một nét đẹp văn hóa lâu đời của đất nước – con người Việt Nam. Nó là một thứ bánh hoàn hảo, là biểu tượng của tổ tiên, một nét đẹp truyền thống mà người dân mang dòng máu Lạc Hồng cần phải giữ gìn và phát huy.
Vốn là mảnh đất ngàn năm văn hiến, Hà Nội đã hình thành cho mình một nét văn hóa ẩm thực rất riêng. Sau những ngày Tết bộn bề với thịt mỡ, bánh chưng… Người Hà Nội lại làm những bữa bún thang thanh đạm mà không kém phần hấp dẫn.
Bún thang ra đời từ khi nào không ai rõ. Chỉ biết rằng hình ảnh bát bún thang từ lâu đã gắn bó với hình ảnh những cô gái của Hà Nội ba mươi sáu phố phường duyên dáng, khéo léo. Để làm được món bún thang phải chuẩn bị nguyên liệu khá cầu kì: bún, thịt gà, trứng gà, tôm nõn, nem chạo, xương lợn, rau thơm.
Việc lựa chọn và chế biến các nguyên liệu ấy cũng rất tinh tế. Bún phải là thứ bún sợi nhỏ, trắng trong, không có mùi chua. Thịt gà luộc chín xé sợi nhỏ. Trứng gà lựa lấy lòng đỏ, tráng những lớp mỏng và khô rồi cuộn lại thái thành những sợi nhỏ. Với tôm nõn ta phải ngâm một lát, để ráo nước rồi giã bông. Rau thơm rửa sạch, thái nhỏ, riêng với nem chạo thì ta để nguyên.
Xương lợn là nguyên liệu dùng để nấu nước dùng vì vậy ta nên chọn xương ống, vừa rẻ vừa ngọt nước. Ta rửa sạch xương, chặt đôi từng khúc cho vào luộc sơ qua rồi rửa sạch. Xương sau khi rửa mới có thể nấu làm nước dùng. Khi nấu, ta cho đầy đủ gia vị, nếm vừa miệng là được. Ban đầu để lửa to, sau khi sôi để lửa nhỏ cho xương nhanh nhừ.
Sau khi đã chế biến xong các nguyên liệu, ta chuẩn bị cho bữa ăn. Lấy một bát to, ta đặt vào đó lần lượt: bún, thịt gà xé sợi, trứng gà thái sợi, tôm bông, nem chạo, rau thơm rồi cho nước dùng vào. Ta sẽ có bát bún thang với màu trắng của bún, màu trắng ngà của thịt gà, màu vàng của trứng, màu hồng của tôm bông, màu nâu của nem chạo, màu xanh của rau thơm. Đặc biệt, sự trong veo của nước dùng sẽ làm nổi lên những màu sắc hấp dẫn của bát bún.
Hương vị của bún thang rất thanh đạm khác hẳn cái béo ngậy của thịt mỡ hay đồ nếp. Bún thang thường được dùng sau những ngày Tết ồn ào hay trong những ngày hè cần một món ăn nhẹ nhàng, mát dịu.
Bún thang cùng với phở, bánh tôm…đã trở thành đặc trưng của ẩm thực Hà Nội. Bát bún thang ẩn chứa trong đó sự khéo léo, tinh tế, tỉ mỉ của những “nghệ nhân” ẩm thực đất Hà thành. Và vì thế, bún thang đã “để thương để nhớ” cho tâm hồn bao người con đất Kinh kì cũng như những du khách may mắn trong đời có lần được đến với Thủ đô.
Mỗi quốc gia, dân tộc lại có một nền văn hóa ẩm thực khác nhau. Người ta biết đến sushi Nhật Bản, kim chi Hàn Quốc và bạn bè quốc tế đều biết đến phở Việt Nam. Phở không những là món ăn dân tộc mà còn là văn hóa ẩm thực Việt trên trường quốc tế.Không có tư liệu chính xác nào về nguồn gốc của phở. Nhiều người cho rằng phở định hình vào đầu thế kỉ 20. Có quan điểm cho rằng phở vốn bắt nguồn từ món xáo trâu (dạng sợi bún) Việt Nam. Có quan điểm khác lại cho biết phở bắt nguồn từ một món ăn Quảng Đông hoặc nguồn gốc của phở là phương pháp chế biến món thịt bò hầm của Pháp. Dù không rõ phở có nguồn gốc chính xác từ đâu nhưng vào những năm 40 của thế kỉ 20, phở đã rất nổi tiếng ở Nam Định, Hà Nội.Phở mang nhiều hương vị khác nhau tùy tay người chế biến. Nhưng thành phần chính của phở gồm bánh phở và nước dùng. Bánh phở dạng sợi, thường chế biến từ gạo. Nước dùng có mùi thơm từ gừng, quế, hồi và thảo quả nướng kết hợp với vị ngọt từ xương lợn được ninh nhừ, thịt bò hoặc thịt gà được thái mỏng và trần vào bát phở cùng với các loại rau thơm. Nước dùng là yếu tố quyết định độ ngon của một bát phở, nên khâu chuẩn bị chế biến nước dùng cần đảm bảo kỹ lưỡng. Từ việc chọn xương sao cho ngọt ngon nhất đến ninh xương, nêm nếm gia vị. Vị ngọt của nước dùng phải từ xương thì mới ngon.Nước dùng còn phải có mùi thơm và màu trong. Những yêu cầu này đòi hỏi người đầu bếp phải có kinh nghiệm. Ngoài ra khi ăn phở, người ta hay ăn kèm rau thơm, thêm vị chua thanh thanh từ chanh. Tất cả cùng hòa quyện khiến bát phở thơm ngon đúng điệu không sai lệch đi một chút nào.Qua nhiều giai đoạn phát triển của phở và sự sáng tạo của người đầu bếp từ thế hệ đi trước đến thế hệ sau, phở có nhiều loại hơn tương ứng cách chế biến của nó. Tuy nhiên có ba món phở chính là: phở nước, phở xào và phở áp chảo. Phở nước là loại được ưa chuộng hơn cả. Phở nước gồm phở bò, phở gà, phở tim gan. Khác nhau như vậy sở dĩ là do nước dùng cùng thịt ăn kèm. Trong số đó, nổi tiếng nhất là phở bò. Phở được trình bày trong bát sứ với độ lớn vừa phải. Khi ăn phở, phải kết hợp dùng cả đũa vàthìa để thưởng thức được trọn vẹn hương vị của một bát phở. Ăn phở phải ăn nóng và không ăn kèm thêm bất cứ món ăn, đồ uống nào khác bởi hương vị của nó vốn đã rất đầy đủ, hoàn hảo rồi.Phở đã trở thành nét tinh tế trong văn hóa ấm thực dân tộc. Bốn mùa xuân hạ thu đông, cả ngày sáng trưa chiều tối, bất cứ khi nào muốn chúng ta đều có thể thưởng thức phở. Trên khắp mọi miền của tổ quốc thân yêu, quán ăn nào cũng phục vụ phở. Có những quán phở đã thành danh từ năm này qua năm khác, có những nơi đã trở thành làng nghề. Phở là một phần không thể thiếu trong tâm hồn mỗi người con Việt Nam, để rồi khi xa quê hương, ở nước ngoài người ta vẫn khao khát được ăn môt bát phở Việt Nam đúng nghĩa. Bạn bè trên thế giới đến với Việt Nam, ai cũng một lần thử qua món phở và thích thú mùi vị của nó. Thậm chí, có nhiều người lặn lội từ vì lẽ đó đã gắn liền với đất nước và con người Việt Nam. Nếu hỏi một người nước ngoài rằng họ biết gì về Việt Nam, chắc chắn sẽ không có câu trả lời nào khác ngoài phở. Phở còn trở thành đề tài cho bao tác phẩm đồ sộ của các tác giả như Thạch Lam, Vũ Bằng... Cùng với tình yêu quê hương, ngày qua ngày, người ta luôn cố gắng giữ gìn nét ẩm thực độc đáocủa đất nước mình.Bao thế hệ đã đi qua, nhưng phở vẫn còn mãi dưới đôi tay khéo léo của người đầu bếp. Bát phở nghi ngút khói trong cái se se lạnh của đất nước nhiệt đới ẩm đã lặng lẽ khắc ghi trong trái tim con người Việt Nam niềm tự hào dân tộc.
Quảng cáo
Bạn cần hỏi gì?
Câu hỏi hot cùng chủ đề
-
106410
-
Hỏi từ APP VIETJACK82570
-
Hỏi từ APP VIETJACK78459
-
Hỏi từ APP VIETJACK62974
-
Hỏi từ APP VIETJACK49756
-
39154
