Quảng cáo
2 câu trả lời 332
Thiên nhiên từ trước đến nay luôn là người bạn gắn bó mật thiết với con người. Sự tác động qua lại giữa con người và thiên nhiên luôn được nhấn mạnh dù ở trong bất cứ hoàn cảnh hay thời đại nào. Được sống giữa thiên nhiên, bao bọc bởi tự nhiên là điều mà ai cũng muốn. Chẳng phải ngẫu nhiên mà Hồ Chí Minh lại viết những vần thơ “Tiếng suối trong như tiếng hát xa/ Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa”, Nguyễn Trãi thì viết “Côn Sơn có đá rêu phơi/ Ta nằm trên đá như nằm đệm êm” hay thi hào Lí Bạch so sánh thác núi Lư như dải ngân hà tuột khỏi mây. Hình như đứng trước cảnh thiên nhiên núi non hùng vĩ ấy thi nhân cũng trở nên đắm đuối không thôi.
Thiên nhiên vốn là nguồn cảm hứng bất tận của thơ ca bao đời nay. Nó chính là thác nguồn dạt dào của mọi cảm xúc. Để có những bức tranh đẹp đẽ thế thi nhân đã hóa thân, đắm chìm vào thiên nhiên để cảm nhận trọn vẹn vẻ đẹp của nó.
Thiên nhiên và con người có sự gắn bó mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau. Thiên nhiên chính là nguồn tài nguyên dồi dào vô tận để con người khai thác và sử dụng ngược lại con người chính là những người tái tạo và tận dụng nguồn khoáng sản vô giá đó. Không cần phải nhấn mạnh thì ai cũng biết thiên nhiên là người bạn đồng thời là người mẹ vĩ đại của nhân loại. hãy thử tưởng tượng cuộc sống của bạn một ngày tách rời khỏi thiên nhiên thì sẽ thế nào? Chắc sẽ vô cùng buồn tẻ và nhàm chán.
Sẽ chẳng còn cơn gió nhẹ thổi bay nỗi buồn, sẽ chẳng còn những ánh nắng nhẹ sưởi ấm trái tim mỗi khi lạnh lẽo và cũng chẳng còn tiếng chim hót líu lo đánh thức bình minh nữa. Không phải ngẫu nhiên những thi nhân nổi tiếng lại dùng những mỹ từ đầy ưu ái cho thiên nhiên vì nó chính là mạch cảm xúc dạt dào, bất tận. Chỉ khi ta hòa mình vào nó, đắm chìm trong nó thì ta mới có thể cảm nhận được những vẻ đẹp tuyệt vời bình dị mà nó mang đến mà thôi.
Chẳng có cơn gió nào có thể hờ hững trước những giọt nước mắt của người con gái, sẽ chẳng có cơn mưa nào không gột rửa được những đau thương, và sẽ chẳng có ánh bình minh nào không mang đến sự khởi nguồn cho cuộc sống. Thiên nhiên luôn đẹp vẻ đẹp bất tận và chan hòa, vẻ đẹp hiền hòa để chở che, nâng niu con người trước những biến động bất ngờ. Nếu không có thiên nhiên hỏi sao có biển khơi ăm ắp cá, sao có rừng vàng biển bạc, đất phì nhiêu? Và lẽ dĩ nhiên sẽ chẳng có suối nguồn trong xanh nước, và cũng chẳng có nổi một bông lúa trĩu bông của ngày mùa bội thu.
Con người chúng ta may mắn hơn những con vật kia bởi chỗ chúng ta biết khai thác thiên nhiên biết tận dụng nó để làm giàu cho chính mình. Vì thế nên chẳng có cớ gì mà chúng ta lại không yêu thương nó cả, vì có nó mới có cuộc sống của chúng ta hôm nay.
Qua những vần thơ của Hồ Chí Minh, Nguyễn Trãi hay Lí Bạch ta cảm nhận đó là một tình yêu thiên nhiên chứa chan vô hạn. Những thứ tình cảm vô cùng dung dị nhưng thanh cao, những vĩ nhân đã dùng tâm hồn của mình để cảm nhận về bức tranh thiên nhiên sống động tuyệt vời.
Hồ Chí Minh so sánh tiếng suối với tiếng hát một cách rất tinh tế, gợi cảm. Hình ảnh so sánh này khiến cho âm thanh của tiếng suối xa càng trở nên gần gũi, thân mật với con người, tạo giọng điệu trẻ trung, trong trẻo. Cách so sánh của tác giả rất độc đáo và thể hiện tư duy mới mẻ trong thơ: lấy con người làm chuẩn mực để so sánh với thiên nhiên, làm cho âm thanh thiên nhiên cũng trở nên gần gũi, thân quen.
Tiếp theo đó là sự hài hoà giữa cảnh vật: Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa. Cảnh vật thiên nhiên huyền ảo, hài hoà, lồng vào nhau để tôn lên vẻ đẹp của nhau. Dòng thơ thứ hai có thể hình dung theo hai cách: ánh trăng chiếu vào vòm cổ thụ, bóng lồng vào bóng hoa hoặc ánh trăng chiếu rọi vào các vòm lá cổ thụ in bóng xuống mặt đất như muôn ngàn bông hoa. Trong Chinh phụ ngâm khúc, Đoàn Thị Điểm viết “Hoa dãi nguyệt nguyệt in một tấm/ Nguyệt lồng hoa hoa thắm từng bông”. Ta có thể hình dung bức tranh nhiều tầng lớp, đường nét, hình khối đa dạng nhưng rất hài hoà. Có dáng hình vươn toả của vòm cổ thụ, trên cao lấp loáng ánh trăng, dưới mặt đất, bóng cây, trăng, hoa, lá in vào tạo thành những bông hoa thêu dệt. Bức tranh có sự hài hoà hai màu sáng tối, đen trắng mà tạo nên vẻ lung linh, chập chờn, ấm áp mà gần gũi. Hai câu thơ rất giàu giá trị biểu cảm, câu đầu là thi trung hữu nhạc, câu sau là thi trung hữu hoạ.
Trong khung cảnh thiên nhiên hữu tình ấy xuất hiện hình ảnh con người, chính là hình ảnh thi nhân. Trước vẻ đẹp của thiên nhiên, nhà thơ say mê chiêm ngưỡng mà chưa ngủ. Dòng thứ tư bất ngờ mở ra chiều sâu mới trong tâm hồn nhà thơ: thao thức còn chính là vì lo cho vận mệnh đất nước, hay chính là vì thức đến canh khuya lo việc nước mà Bác gặp ánh trăng rừng tuyệt đẹp. Giữa cảnh vật đó là hình ảnh nhà thơ – hình ảnh vị lãnh tụ lo lắng cho dân, cho nước không ngủ được. Trong thơ của Bác, có nhiều cảnh mất ngủ, đã diễn tả tấm lòng yêu nước, thương dân, trách nhiệm của vị lãnh tụ. Thơ của Bác đã diễn tả một cách chân thành và giản dị những tình cảm thiêng liêng với dân tộc, với nhân dân, đó cũng là phong cách thơ độc đáo của Người.
– Nghệ thuật
Bài thơ kết hợp nhiều biện pháp nghệ thuật, nổi bật là phép so sánh (đã phân tích ở phần Nội dung). Phép điệp ngữ (“lồng”, “chưa ngủ”) nối kết hai tâm trạng, bộc lộ chiều sâu nội tâm. Dòng cuối ngắt nhịp 2/5 độc đáo để nhấn mạnh tâm trạng của Bác “vì lo nỗi nước nhà”.
Thơ của Hồ Chủ tịch tiêu biểu cho phong cách trữ tình cách mạng, kết hợp hài hoà giữa chất: cổ điển và hiện đại: cổ điển ở từ ngữ, thể thơ, hình ảnh thơ nhưng hiện đại ở tư tưởng, nội dung.
b. Rằm tháng riêng
– Nội dung
Đây là bài thơ nổi tiếng của Bác Hồ viết đúng tiết rằm tháng giêng năm 1948 ở chiến khu Việt Bắc. Bài thơ viết bằng chữ Hán, có bốn câu, nhưng có thể nói mỗi câu là một nét khắc hoạ tinh tế cảnh sắc thiên nhiên và cảm xúc của con người trước thiên nhiên kì vĩ. Và từ năm 2002, Hội Nhà văn Việt Nam lấy ngày rằm tháng giêng âm lịch hằng năm làm Ngày Thơ Việt Nam thì người yêu thơ càng có dịp hiểu thêm, yêu mến thêm hồn thơ Hồ Chí Minh.
Phiên âm viết bằng chữ Hán theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt còn bản dịch thơ viết theo thể lục bát và có thêm những tính từ miêu tả như lồng lộng (dòng 1) và bát ngát cùng với động từ ngân (dòng 4). Một số từ ngữ của bản dịch không được dịch sát nghĩa với nguyên tác (kim dạ, chính viên, xuân thuỷ, yên ba thâm xứ).
Trong bài Rằm tháng giêng, Bác thưởng trăng trên khói sóng nơi “yên ba thâm xứ” cõi sâu kín bí mật trên dòng sông giữa núi rừng chiến khu. Người đang thưởng ngoạn trăng không chỉ mang cốt cách như các tao nhân mặc khách ngày xưa mà còn là người chiến sĩ cách mạng, vị lãnh tụ đang “bàn bạc việc quân”.
Ta có thể hình dung khung cảnh bầu trời cao rộng, trong trẻo, nổi bật trên bầu trời ấy là vầng trăng tròn đầy, toả sáng khắp trời đất. Cách miêu tả trong bài thơ vẫn theo truyền thống của bút pháp thơ cổ phương Đông: chú ý đến toàn cảnh và sự hoà hợp, thống nhất trong cái toàn thể chứ không đi vào miêu tả chi tiết, gợi nhiều hơn tả. Cảnh đêm Rằm tháng giếng nổi bật với ánh trăng rằm trên sông nước, có không gian bát ngát, tràn đầy sức xuân. Cả dòng thơ thứ hai tràn ngập sắc xuân với ba chữ xuân liên tiếp: Xuân giang xuân thuỷ tiếp xuân thiên. Bác như một tao nhân mặc khách thưởng xuân nhẹ nhàng, yên bình.
Trong khung cảnh đó thật bất ngờ lại diễn ra cuộc họp bàn việc quân, việc chính trị, một công việc quan trọng và hết sức bí mật. Đối chiếu với nguyên tác, hai chữ “yên ba” có nghĩa là khói sóng. Phần dịch thơ là giữa dòng mới chỉ ra được nơi luận bàn việc quân nhưng nó đã bỏ mất cái mịt mù hư thực huyền bí thiêng liêng của cảnh khuya. Đây là một thi liệu cổ được Bác vận dụng rất sáng tạo làm cho bài thơ mang phong vị Đường thi nhưng ba chữ đàm quân sự lại làm cho vần thơ mang màu sắc hiện đại và không khí lịch sử của thời đại.
Đặt trong hoàn cảnh ấy, chúng ta thấy rõ sự bình tĩnh, chủ động, lạc quan của vị lãnh tụ. Phong thái ấy toát ra từ những rung cảm tinh tế, dồi dào trước thiên nhiên, đất nước. Mặc dù phải ngày đêm lo nghĩ việc nước, nhiều đêm không ngủ, nhưng không phải vì thế mà tâm hồn nhà thơ quên rung cảm trước vẻ đẹp của một đêm trăng sáng, một tiêng suối trong, hay cảnh trời nước bao la dưới trăng rằm tháng giêng. Phong thái ung dung còn thể hiện ở con thuyền của vị lãnh tụ sau lúc bàn bạc việc quân trở về, lướt đi phơi phới chở đầy ánh trăng.
Tác giả sử dụng thể thất ngôn tứ tuyệt rất nhuần nhị, tạo cảnh thiên nhiên tươi đẹp với ánh trăng lộng lẫy, tràn đầy sắc xuân. Thể thơ thất ngôn hàm súc, lời ít ý nhiều, tạo sức gợi của ngôn từ, hình ảnh. Nhà thơ đã có sự kết hợp miêu tả và biểu cảm, vừa mang màu sắc cổ điển và hiện đại.
– Nghệ thuật
Bài thơ là sự kết hợp hài hòa phong cách cổ điển và hiện đại. Những thi liệu cổ điển của bài thơ như con thuyền, vầng trăng, sông xuân, trời xuân, khói sóng,… đã tạo nên không khí thưởng ngoạn của các tao nhân mặc khách. Không gian núi rừng tĩnh lặng, không có rượu và hoa để thưởng trăng, không đàm đạo thơ phú mà “đàm quân sự”.
Quảng cáo
Bạn cần hỏi gì?
Câu hỏi hot cùng chủ đề
-
Đã trả lời bởi chuyên gia
66070 -
Hỏi từ APP VIETJACK59248
-
57004
-
Hỏi từ APP VIETJACK44829
-
43187
