Quảng cáo
3 câu trả lời 866
Nhà Hán +Nhà Ngô:Nam Việt
Nhà Lương + Nhà Tùy + Nhà Đường: Vạn Xuân
Dưới các triều đại phong kiến phương Bắc đô hộ, tên gọi của nước ta (các đơn vị hành chính do chính quyền đô hộ đặt ra) qua từng thời kỳ cụ thể như sau:
1. Thời Nhà Hán (Năm 111 TCN – 205)
Tên gọi: Giao Chỉ (về sau là Giao Châu).
Đặc điểm: Nhà Hán chia nước ta thành 3 quận: Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, gộp chung với 6 quận của Trung Quốc để thành lập Giao Châu.
2. Thời Nhà Ngô (Thời Tam Quốc, 220 – 280)
Tên gọi: Giao Châu.
Đặc điểm: Nhà Ngô tách Quảng Châu (thuộc Trung Quốc ngày nay) và Giao Châu ra riêng. Tên gọi Giao Châu dùng để chỉ vùng đất Việt Nam thời bấy giờ.
3. Thời Nhà Lương (502 – 557)
Tên gọi: Giao Châu (cùng với các châu nhỏ bị chia cắt như Ái Châu, Đức Châu, Lợi Châu, Mạng Châu).
Đặc điểm: Nhà Lương chia nhỏ lãnh thổ nước ta thành nhiều châu để dễ bề cai trị.
(Lưu ý: Trong giai đoạn này, sau khi Lý Bôn khởi nghĩa đánh đuổi quân Lương đã thành lập nhà Tiền Lý và đặt tên nước độc lập là Vạn Xuân).
4. Thời Nhà Tùy (581 – 618)
Tên gọi: Bỏ cấp Châu, quay lại đặt thành Giao Châu (sau đó đổi thành Giao Chỉ).
Đặc điểm: Sau khi đánh bại nhà Tiền Lý, nhà Tùy tái lập chính quyền đô hộ và chia đất nước thành 3 quận: Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam.
5. Thời Nhà Đường (618 – 907)
Tên gọi: An Nam đô hộ phủ (đặt năm 679) và sau này đổi thành Tĩnh Hải quân (năm 866).
Đặc điểm: Đây là thời kỳ tên gọi An Nam chính thức xuất hiện trong lịch sử do nhà Đường đổi từ Giao Châu đô hộ phủ thành An Nam đô hộ phủ.
📊 Bảng tổng hợp nhanh:
Triều đại phương Bắc
Tên gọi lãnh thổ / Đơn vị hành chính nước ta
Nhà Hán
Giao Chỉ $\rightarrow$ Giao Châu (gồm 3 quận: Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam)
Nhà Ngô
Giao Châu
Nhà Lương
Giao Châu (chia nhỏ thành Ái Châu, Đức Châu, Lợi Châu...)
Nhà Tùy
Giao Châu $\rightarrow$ Giao Chỉ
Nhà Đường
An Nam đô hộ phủ $\rightarrow$ Tĩnh Hải quân
Quảng cáo
Bạn cần hỏi gì?
