Quảng cáo
4 câu trả lời 269
Anh (chị) hãy phân tích bối cảnh lịch sử và nội dung cơ bản của đường lối đổi mới của Đại hội Đảng lần thứ VI (12/1986). Tại sao nói Đại hội VI là bước ngoặt trong tư duy lý luận của Đảng về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam?
1. Bối cảnh lịch sử của Đại hội VI
a) Tình hình trong nước
Sau khi đất nước thống nhất (1975), Việt Nam tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước. Tuy nhiên, do những hạn chế trong nhận thức và cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, nền kinh tế rơi vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng:
Sản xuất trì trệ, năng suất lao động thấp.
Lạm phát tăng cao, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn.
Thiếu lương thực, hàng hóa khan hiếm.
Cơ chế quản lý tập trung bao cấp làm giảm động lực sản xuất.
Hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước thấp.
b) Tình hình quốc tế
Cuộc cách mạng khoa học – công nghệ phát triển mạnh mẽ.
Nhiều nước tiến hành cải cách, đổi mới để phát triển kinh tế.
Hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới bộc lộ nhiều khó khăn, khủng hoảng.
Xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển ngày càng trở thành xu thế chủ đạo.
Những điều kiện đó đặt ra yêu cầu cấp bách phải đổi mới tư duy và phương thức phát triển đất nước.
2. Nội dung cơ bản của đường lối đổi mới tại Đại hội VI
Đại hội VI (tháng 12/1986) đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước.
a) Đổi mới tư duy kinh tế
Xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp.
Thực hiện hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa.
Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần.
Vận hành nền kinh tế theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
b) Đổi mới cơ cấu kinh tế
Đại hội xác định ba chương trình kinh tế lớn:
Lương thực - thực phẩm.
Hàng tiêu dùng.
Hàng xuất khẩu.
Đây là những lĩnh vực trực tiếp đáp ứng nhu cầu đời sống nhân dân và tạo nguồn tích lũy cho nền kinh tế.
c) Đổi mới cơ chế quản lý
Mở rộng quyền tự chủ cho các cơ sở sản xuất kinh doanh.
Phát huy tính năng động, sáng tạo của người lao động.
Thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động.
d) Đổi mới trong các lĩnh vực khác
Đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị.
Mở rộng quan hệ đối ngoại.
Kết hợp phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Phát huy dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.
3. Tại sao nói Đại hội VI là bước ngoặt trong tư duy lý luận của Đảng về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam?
Đại hội VI được coi là bước ngoặt lịch sử vì:
Thứ nhất, chuyển từ tư duy chủ quan, nóng vội sang tư duy khách quan, thực tiễn
Đảng thẳng thắn nhìn nhận những sai lầm, khuyết điểm trong lãnh đạo và quản lý kinh tế.
Tôn trọng các quy luật khách quan của sản xuất hàng hóa và kinh tế thị trường.
Thứ hai, đổi mới nhận thức về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
Thừa nhận thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là lâu dài, phức tạp.
Không thể nóng vội xóa bỏ ngay các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa.
Thứ ba, đổi mới nhận thức về kinh tế
Chấp nhận nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần.
Xem kinh tế thị trường là công cụ để phát triển lực lượng sản xuất, không đối lập với chủ nghĩa xã hội.
Thứ tư, lấy phát triển kinh tế làm nhiệm vụ trung tâm
Tập trung giải quyết những vấn đề cấp bách của đời sống nhân dân.
Gắn mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội với yêu cầu phát triển kinh tế.
Thứ năm, mở ra thời kỳ hội nhập và phát triển
Từng bước mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại.
Tạo cơ sở cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước sau này.
Đại hội Đảng lần thứ VI (12/1986) là Đại hội của đổi mới, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy lý luận và thực tiễn của Đảng. Đại hội đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện, trước hết là đổi mới kinh tế, đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, mở ra thời kỳ phát triển mới và tạo nền tảng cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đây được xem là bước ngoặt lịch sử trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam thời kỳ đổi mới.
I. Bối cảnh lịch sử của Đại hội Đảng lần thứ VI (12/1986)
Đại hội VI diễn ra trong bối cảnh cả trong nước và quốc tế đều có những biến động sâu sắc, đặt Việt Nam trước yêu cầu sống còn phải thay đổi.
1. Bối cảnh trong nước: Khủng hoảng kinh tế – xã hội trầm trọng
Sai lầm mang tính chủ quan: Sau năm 1975, chúng ta duy trì quá lâu mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, cơ chế quản lý hành chính cứng nhắc. Việc nóng vội xóa bỏ các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh công nghiệp nặng không phù hợp thực tế.
Kinh tế suy thoái: Sản xuất nông nghiệp và công nghiệp đình đốn. Đất nước thiếu hụt lương thực, thực phẩm và hàng tiêu dùng nghiêm trọng, phải ngửa tay nhận viện trợ.
Lạm phát phi mã: Sau cuộc tổng điều chỉnh "Giá - Lương - Tiền" năm 1985, nền kinh tế rơi vào vòng xoáy bất ổn, đỉnh điểm lạm phát năm 1986 lên tới 774,7%.
Đời sống nhân dân cực khổ: Tiền lương thực tế giảm sút, niềm tin của quần chúng nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng bị suy giảm mạnh mẽ.
2. Bối cảnh quốc tế: Xu thế cải cách và áp lực cô lập
Cải tổ ở Liên Xô và Đông Âu: Từ năm 1985, Liên Xô thực hiện công cuộc Cải tổ (Perestroika), các nước xã hội chủ nghĩa khác cũng tìm đường cải cách, làm thay đổi tư duy truyền thống về chủ nghĩa xã hội (CNXH).
Xu thế cách mạng khoa học - công nghệ: Kinh tế thế giới chuyển dịch mạnh mẽ hướng tới toàn cầu hóa, đòi hỏi các quốc gia phải mở cửa.
Bao vây, cấm vận: Do vấn đề Campuchia, Việt Nam bị Mỹ và các nước phương Tây bao vây kinh tế, cấm vận ngặt nghèo, nguồn viện trợ từ Liên Xô và khối SEV cũng bắt đầu giảm dần.
II. Nội dung cơ bản của Đường lối Đổi mới tại Đại hội VI
Với tinh thần "nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật", Đại hội VI đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện, trọng tâm là đổi mới kinh tế.
1. Đổi mới cơ cấu kinh tế (Phát triển kinh tế nhiều thành phần)
Thừa nhận sự tồn tại khách quan của các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ.
Chuyển từ nền kinh tế thuần nhất (chỉ có quốc doanh và tập thể) sang nền kinh tế nhiều thành phần (thừa nhận kinh tế cá thể, tư nhân, tư bản tư doanh).
2. Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế
Kiên quyết xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp.
Chuyển sang cơ chế hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, kết hợp kế hoạch với quan hệ thị trường, thừa nhận quy luật hàng hóa và quy luật giá trị.
3. Thực hiện Ba chương trình kinh tế lớn
Đại hội quyết định tập trung tối đa nguồn lực, thay đổi trật tự ưu tiên để thực hiện:
Chương trình lương thực, thực phẩm: Đảm bảo nhu cầu ăn của xã hội và có dự trữ.
Chương trình hàng tiêu dùng: Đáp ứng nhu cầu thiết yếu của nhân dân, giảm khan hiếm.
Chương trình hàng xuất khẩu: Tạo nguồn thu ngoại tệ để nhập khẩu máy móc, vật tư.
4. Đổi mới chính sách đối ngoại và hệ thống chính trị
Đối ngoại: Từng bước phá thế bao vây cô lập, chuyển sang chính sách mở cửa, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế.
Chính sách xã hội: Gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội; thừa nhận lợi ích cá nhân chính đáng của người lao động.
Đổi mới Đảng: Đổi mới phong cách làm việc, chống quan liêu, nâng cao năng lực lãnh đạo và thực hiện dân chủ hóa xã hội.
III. Tại sao nói Đại hội VI là "bước ngoặt trong tư duy lý luận" của Đảng về thời kỳ quá độ lên CNXH?
Đại hội VI không chỉ đưa ra các giải pháp tình thế, mà quan trọng hơn, nó đánh dấu một cuộc cách mạng về nhận thức luận, làm thay đổi sâu sắc các quan điểm lý luận kinh điển của Đảng về CNXH.
1. Nhận thức lại đúng đắn về "Thời kỳ quá độ"
Trước Đại hội VI: Đảng có tư tưởng nôn nóng, chủ quan, muốn "tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên CNXH", muốn xóa bỏ ngay lập tức các quan hệ kinh tế cũ khi lực lượng sản xuất còn quá yếu kém.
Từ Đại hội VI: Đảng nhận thức lại rằng thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam là một chặng đường lâu dài, gian khổ, gồm nhiều chặng đường nhỏ. Việt Nam đang ở "chặng đường đầu tiên" của thời kỳ quá độ, mục tiêu cốt lõi của chặng này là ổn định kinh tế - xã hội chứ không phải xây dựng ngay một xã hội cộng sản hoàn chỉnh.
2. Bước nhảy vọt về quy luật: Phù hợp giữa Quan hệ sản xuất và Lực lượng sản xuất
Trước Đại hội VI: Nghĩ rằng chỉ cần xây dựng quan hệ sản xuất thật tiên tiến (với sở hữu toàn dân và tập thể thật lớn) thì tự động thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.
Từ Đại hội VI: Thừa nhận quy luật khách quan: Quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Khi lực lượng sản xuất của Việt Nam còn rất thấp kém (thủ công, lạc hậu), thì quan hệ sản xuất bắt buộc phải đa dạng (nhiều thành phần kinh tế) để giải phóng mọi năng lực sản xuất của người dân.
3. Từ bỏ định kiến về Kinh tế thị trường và Hàng hóa
Trước Đại hội VI: Đồng nhất sản xuất hàng hóa, kinh tế thị trường, kinh tế tư nhân với bản chất của chủ nghĩa tư bản, coi tiền tệ, giá cả chỉ là công cụ hình thức.
Từ Đại hội VI: Khẳng định sản xuất hàng hóa không mâu thuẫn với CNXH. Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần là một tất yếu khách quan trong thời kỳ quá độ. Đây là bước đột phá lý luận cốt lõi, làm tiền đề cho khái niệm "Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" sau này.
4. Thay đổi tư duy về phân phối và lợi ích
Trước Đại hội VI: Thực hiện phân phối cào bằng, bình quân, nhấn mạnh lợi ích tập thể mà xem nhẹ lợi ích cá nhân, dẫn đến triệt tiêu động lực lao động.
Từ Đại hội VI: Thừa nhận động lực kinh tế trực tiếp là lợi ích của người lao động. Thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động và chấp nhận sự phân hóa giàu nghèo hợp pháp dựa trên kết quả sản xuất kinh doanh.
Kết luận
Đại hội VI (12/1986) chính là chiếc "bản lề" lịch sử. Từ một tư duy giáo điều, rập khuôn mô hình có sẵn, Đảng Cộng sản Việt Nam đã dũng cảm bứt phá, trở lại với các quy luật khách quan và thực tiễn đất nước. Sự chuyển dịch tư duy lý luận tại Đại hội VI đã đặt nền móng vững chắc cho tất cả các thành tựu phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế vượt bậc của Việt Nam suốt những thập kỷ sau đó.
Đại hội Đảng lần thứ VI (12/1986) được coi là bước ngoặt quan trọng trong tư duy lý luận của Đảng về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam vì đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện, giúp đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội.
-
Bối cảnh lịch sử:
-
Tình hình trong nước: Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, Việt Nam gặp phải khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng do cơ chế quản lý kinh tế tập trung, bao cấp, dẫn đến sản xuất trì trệ, lạm phát cao và đời sống nhân dân khó khăn
-
Tình hình quốc tế: Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ diễn ra mạnh mẽ, nhiều nước tiến hành cải cách để phát triển kinh tế, trong khi hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới cũng bộc lộ nhiều khó khăn
-
-
Nội dung cơ bản của đường lối đổi mới:
-
Chuyển đổi tư duy: Đại hội VI đã chuyển từ tư duy chủ quan, nóng vội sang tư duy khách quan, thực tiễn, thẳng thắn nhìn nhận những sai lầm trong lãnh đạo và quản lý kinh tế
-
Đổi mới nhận thức về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội: Thừa nhận thời kỳ quá độ là lâu dài và phức tạp, không thể nóng vội xóa bỏ các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa
-
Chấp nhận nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần: Xem kinh tế thị trường là công cụ phát triển lực lượng sản xuất, không đối lập với chủ nghĩa xã hội
-
Phát triển kinh tế làm nhiệm vụ trung tâm: Tập trung giải quyết các vấn đề cấp bách của đời sống nhân dân, gắn mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội với phát triển kinh tế
-
Mở ra thời kỳ hội nhập và phát triển: Từng bước mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, tạo cơ sở cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
-
Đại hội VI không chỉ là một sự kiện quan trọng trong lịch sử Đảng mà còn là bước ngoặt trong tư duy lý luận, mở ra thời kỳ đổi mới và phát triển cho đất nước Việt Nam.
Quảng cáo
Bạn cần hỏi gì?
Câu hỏi hot cùng chủ đề
-
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
96483 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
57860 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
51573 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
45251 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
40394 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
39303 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
37478 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
35093 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
32918 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
31317
