một số thông tin của nhà thơ Huy Cận
Quảng cáo
9 câu trả lời 148
Ông là nhà thơ lớn của nền văn học Việt Nam hiện đại, nổi tiếng từ phong trào Thơ mới trước Cách mạng tháng Tám.
Thơ Huy Cận trước Cách mạng thường mang nỗi buồn man mác, cô đơn, tiêu biểu là tập Lửa thiêng.
Sau Cách mạng, thơ ông trở nên lạc quan, gắn bó với cuộc sống và con người mới, tiêu biểu có bài Đoàn thuyền đánh cá.
Ngoài sáng tác văn học, Huy Cận còn giữ nhiều chức vụ quan trọng trong Nhà nước và được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học – nghệ thuật.
Một số thông tin về nhà thơ Huy Cận:
Tên thật: Cù Huy Cận
Năm sinh – năm mất: 1919 – 2005
Quê quán: Làng Ân Phú, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh
Là nhà thơ lớn của phong trào Thơ mới trước Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Thơ Huy Cận trước Cách mạng thường mang nỗi buồn vũ trụ, cảm giác cô đơn của con người trước không gian rộng lớn.
Sau Cách mạng, thơ ông trở nên lạc quan, gắn bó với cuộc sống, đất nước và con người lao động.
Tác phẩm tiêu biểu: Lửa thiêng, Đoàn thuyền đánh cá, Trời mỗi ngày lại sáng…
Ông được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
Một số thông tin về nhà thơ Huy Cận:
Tên thật: Cù Huy Cận
Năm sinh – năm mất: 1919 – 2005
Quê quán: Làng Ân Phú, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh
Là nhà thơ lớn của phong trào Thơ mới trước Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Thơ Huy Cận trước Cách mạng thường mang nỗi buồn vũ trụ, cảm giác cô đơn của con người trước không gian rộng lớn.
Sau Cách mạng, thơ ông trở nên lạc quan, gắn bó với cuộc sống, đất nước và con người lao động.
Tác phẩm tiêu biểu: Lửa thiêng, Đoàn thuyền đánh cá, Trời mỗi ngày lại sáng.
Ông được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
Một số thông tin về nhà thơ Huy Cận:
Tên thật: Cù Huy Cận
Năm sinh – năm mất: 1919 – 2005
Quê quán: Làng Ân Phú, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh
Là nhà thơ lớn của phong trào Thơ mới trước Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Thơ Huy Cận trước Cách mạng thường mang nỗi buồn vũ trụ, cảm giác cô đơn của con người trước không gian rộng lớn.
Sau Cách mạng, thơ ông trở nên lạc quan, gắn bó với cuộc sống, đất nước và con người lao động.
Tác phẩm tiêu biểu: Lửa thiêng, Đoàn thuyền đánh cá, Trời mỗi ngày lại sáng…
Ông được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
Tên thật: Cù Huy Cận
Sinh – mất: 31/5/1919 – 19/2/2005
Quê quán: Làng Ân Phú, huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh
Là một trong những gương mặt tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932–1945)
Tập thơ nổi tiếng nhất trước Cách mạng tháng Tám: Lửa thiêng (1940)
→ Thể hiện nỗi buồn nhân sinh, cảm giác cô đơn, vũ trụ bao la
Bài thơ rất nổi tiếng: Tràng giang (in trong Lửa thiêng)
Sau Cách mạng tháng Tám 1945
Tham gia hoạt động cách mạng và giữ nhiều chức vụ quan trọng trong Nhà nước
Thơ ca chuyển hướng rõ rệt: từ nỗi buồn cá nhân sang niềm vui cuộc sống, con người và đất nước
Một số tập thơ tiêu biểu sau này:
Trời mỗi ngày lại sáng
Đất nở hoa
Bài thơ cuộc đời
Giải thưởng – danh hiệu
Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học – Nghệ thuật (1996)
Huy Cận được đánh giá là nhà thơ có phong cách trữ tình, giàu suy tưởng, góp phần quan trọng vào sự phát triển của thơ ca Việt Nam hiện đại.
Dưới đây là những thông tin chính về ông:
1. Tiểu sử và Sự nghiệp
Tên đầy đủ: Cù Huy Cận.
Quê quán: Làng Ân Phú, huyện Hương Sơn (nay là huyện Vũ Quang), tỉnh Hà Tĩnh.
Sự nghiệp chính trị: Trước năm 1945, ông tham gia Mặt trận Việt Minh. Sau Cách mạng tháng Tám, ông giữ nhiều chức vụ quan trọng như Bộ trưởng Bộ Canh nông, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, và Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam. Ông được bầu là Viện sĩ Viện Hàn lâm Thơ Thế giới năm 2001.
2. Phong cách nghệ thuật
Sự nghiệp sáng tác của Huy Cận được chia thành hai giai đoạn đối lập nhưng thống nhất trong một cái tôi tài hoa:
Trước Cách mạng tháng Tám: Thơ ông mang đậm nỗi buồn "sầu vạn cổ", sự cô độc của con người trước vũ trụ bao la. Tập thơ "Lửa thiêng" (1940) là đỉnh cao của giai đoạn này, khẳng định vị thế của ông trong Thơ mới.
Sau Cách mạng tháng Tám: Hồn thơ chuyển sang niềm vui, sự tin yêu vào cuộc sống mới và con người lao động. Hình ảnh thơ trở nên ấm áp, khỏe khoắn và giàu hơi thở cuộc sống, tiêu biểu là tập "Trời mỗi ngày lại sáng" (1958).
3. Tác phẩm tiêu biểu
Lửa thiêng (1940): Tập thơ nổi tiếng nhất với các bài như Tràng giang, Ngậm ngùi.
Trời mỗi ngày lại sáng (1958): Với bài thơ Đoàn thuyền đánh cá (thường được giảng dạy trong chương trình Ngữ văn).
Đất nở hoa (1960).
Bài thơ cuộc đời (1963).
4. Giải thưởng tiêu biểu
Nhờ những đóng góp to lớn cho nền văn học nước nhà, ông đã được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật (đợt I - 1996).
Huy Cận (1919 – 2005) là một trong những gương mặt đại biểu xuất sắc nhất của phong trào Thơ mới và là một chính khách lớn của Việt Nam. Dưới đây là những thông tin quan trọng về ông:
1. Tiểu sử và Con người
Tên khai sinh: Cù Huy Cận.
Quê quán: Xã Ân Phú, huyện Vũ Quang (trước đây thuộc Hương Sơn), tỉnh Hà Tĩnh.
Học vấn: Ông từng học tại Huế (nơi gặp gỡ người bạn tâm giao Xuân Diệu) và tốt nghiệp kỹ sư canh nông tại Hà Nội.
Sự nghiệp chính trị: Sau Cách mạng tháng Tám, ông giữ nhiều chức vụ cao cấp như Bộ trưởng Bộ Canh nông, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam. Ông cũng là Viện sĩ Viện Hàn lâm Thơ Thế giới.
2. Sự nghiệp sáng tác và Phong cách nghệ thuật
Huy Cận là một "kiện tướng" của Thơ mới, nhưng phong cách của ông có sự chuyển mình rõ rệt qua hai giai đoạn:
Giai đoạn
Đặc điểm phong cách
Tác phẩm tiêu biểu
Trước Cách mạng (1945)
Hồn thơ ảo não, buồn thương ("sầu vạn kỷ"). Thơ ông thường mang vẻ đẹp cổ điển, triết lý và nỗi cô đơn trước vũ trụ bao la.
Lửa thiêng (1940), Vũ trụ ca, Kinh cầu tự (văn xuôi).
Sau Cách mạng (1945)
Thơ tươi mới, tràn đầy sức sống và niềm vui. Ông bám sát hiện thực cuộc sống, ca ngợi con người mới và công cuộc xây dựng đất nước.
Trời mỗi ngày lại sáng, Đất nở hoa, Bài thơ cuộc đời, Đoàn thuyền đánh cá.
3. Những đóng góp và Danh hiệu
Giải thưởng: Ông được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật (đợt I - 1996) và Huân chương Sao Vàng.
Tầm ảnh hưởng: Cùng với Xuân Diệu, Huy Cận tạo thành cặp bài trùng "nhất thế giới" của phong trào Thơ mới. Bài thơ Tràng giang của ông được coi là một trong những bài thơ hay nhất của thơ ca Việt Nam hiện đại, kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố cổ điển (Đường thi) và hiện đại.
Ghi chú: Huy Cận và Xuân Diệu có một tình bạn tri kỷ hiếm có trong văn chương Việt Nam. Họ gắn bó, sống chung và hỗ trợ nhau trong suốt sự nghiệp sáng tác và hoạt động cách mạng.
Ông là nhà thơ lớn của nền văn học Việt Nam hiện đại, nổi tiếng từ phong trào Thơ mới trước Cách mạng tháng Tám.
Thơ Huy Cận trước Cách mạng thường mang nỗi buồn man mác, cô đơn, tiêu biểu là tập Lửa thiêng.
Sau Cách mạng, thơ ông trở nên lạc quan, gắn bó với cuộc sống và con người mới, tiêu biểu có bài Đoàn thuyền đánh cá.
Ngoài sáng tác văn học, Huy Cận còn giữ nhiều chức vụ quan trọng trong Nhà nước và được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học – nghệ thuật.
Tiểu sử và sự nghiệp
Quê quán: Ông sinh ngày 31 tháng 5 năm 1919 tại làng Ân Phú, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh (nay thuộc xã Ân Phú, huyện Vũ Quang).
Phong trào Thơ mới: Huy Cận là một tác giả tiêu biểu, thành công ngay từ những ngày đầu tham gia phong trào Thơ mới với tập thơ đầu tay nổi tiếng là Lửa thiêng (1940). Thơ ông giai đoạn này thường bộc lộ nỗi sầu của một cái tôi cô đơn trước thiên nhiên rộng lớn, nhưng thấm đượm tình người, tình đời và lòng yêu nước.
Sự nghiệp cách mạng: Sau Cách mạng tháng Tám, sự nghiệp sáng tác của Huy Cận có sự chuyển hướng mạnh mẽ từ "nỗi sầu nhân thế" sang "lạc quan cách mạng". Ông là người đã đóng góp lớn cho nền văn học nước nhà bằng việc đưa thơ ca phục vụ cách mạng và sự vận động của đời sống. Ông từng là vị Bộ trưởng trẻ nhất trong Chính phủ lâm thời.
Giải thưởng và vinh danh: Ông đã được Nhà nước Việt Nam phong tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt I - năm 1996). Tháng 6 năm 2001, ông được bầu là viện sĩ Viện Hàn lâm Thơ Thế giới.
Qua đời: Ông mất ngày 19 tháng 2 năm 2005 tại Hà Nội.
Quảng cáo
Bạn cần hỏi gì?
Câu hỏi hot cùng chủ đề
-
12356
-
Đã trả lời bởi chuyên gia
10049
