"Sau khi chiếm được các nước ở Đông Nam Á, để thống trị và tiên hành khai thác thuộc địa có hiệu quả, các nước thực dân đều tiến hành xây dựng bộ máy cai trị, mặc dù mức độ và hình thức bộ máy thuộc địa của mỗi thực dân hoặc mỗi nước thuộc địa của một thực dân có những nét khác nhau. Về đại thể có hai hình thức cai trị: trực tiếp và gián tiếp. Nói chung các thuộc địa của Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan, Pháp và một phần thuộc địa của Anh đều chịu hình thức cai trị trực tiếp. Còn một bộ phận thuộc địa của Anh và sau này là thuộc địa của Mỹ (ở Philippin) được các nước thực dân nay ap dụng hinh thức cai trị gian tiêp. Mặc dù có quy định quyên hạn cho thuộc địa rộng hẹp khác nhau, với những hình thức cai trị hoàn toàn không giông nhau, nhưng vê bản chât tât cả chỉ là một" (Lương Ninh, Lịch sử Đông Nam Á, Nxb Giáo dục, 2008, tr.249)
a. Trình bày những chính sách cai trị của thực dân phương Tây ở Đông Nam Á?.
b. Phân tích những ảnh hưởng của chế độ thực dân đối với các nước thuộc địa ở Đông Nam Á?
c. Từ những ảnh hưởng của chế độ thực dân đối với các nước thuộc địa ở Đông Nam Á, liên hệ với thực tế ở Việt Nam?
Quảng cáo
3 câu trả lời 187
a. Chính sách cai trị của thực dân phương Tây ở Đông Nam Á
Sau khi xâm chiếm các nước Đông Nam Á, các nước thực dân phương Tây đã thiết lập bộ máy thống trị chặt chẽ nhằm phục vụ cho mục tiêu khai thác và bóc lột thuộc địa. Về cơ bản, chúng áp dụng hai hình thức cai trị là cai trị trực tiếp và gián tiếp.
Cai trị trực tiếp: Thực dân trực tiếp nắm quyền điều hành mọi mặt từ chính trị, kinh tế đến quân sự và hành chính. Chúng loại bỏ hoặc làm suy yếu quyền lực của các chính quyền bản xứ, thiết lập bộ máy cai trị do người châu Âu đứng đầu. Hình thức này được áp dụng phổ biến ở các thuộc địa của Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan, Pháp và một phần thuộc địa của Anh.
Cai trị gián tiếp: Thực dân duy trì bộ máy chính quyền bản xứ nhưng đặt dưới sự kiểm soát của mình. Các vua chúa, quan lại bản địa chỉ là công cụ phục vụ cho chính quyền thực dân. Hình thức này được Anh và sau đó là Mỹ áp dụng ở một số thuộc địa như Philippin.
Bên cạnh đó, thực dân còn thực hiện các chính sách:
Chính trị: Chia để trị, đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân.
Kinh tế: Khai thác tài nguyên, bóc lột nhân công rẻ mạt, biến thuộc địa thành nơi cung cấp nguyên liệu và thị trường tiêu thụ.
Văn hóa – xã hội: Truyền bá văn hóa phương Tây một cách có chọn lọc, hạn chế giáo dục, làm xói mòn bản sắc dân tộc.
b. Ảnh hưởng của chế độ thực dân đối với các nước thuộc địa ở Đông Nam Á
Chế độ thực dân đã để lại những tác động sâu sắc và lâu dài đối với các nước Đông Nam Á, cả tiêu cực lẫn tích cực.
Tác động tiêu cực (chủ yếu)
Các nước Đông Nam Á mất độc lập, chủ quyền, trở thành thuộc địa hoặc nửa thuộc địa.
Nền kinh tế bị kìm hãm, lệ thuộc, phát triển mất cân đối, đời sống nhân dân vô cùng khổ cực.
Xã hội phân hóa sâu sắc, mâu thuẫn dân tộc và giai cấp ngày càng gay gắt.
Văn hóa truyền thống bị mai một, tinh thần dân tộc bị đàn áp.
Tác động tích cực (hạn chế)
Một số yếu tố của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa được du nhập như giao thông, đô thị, kỹ thuật sản xuất mới.
Góp phần làm xuất hiện các giai cấp và tầng lớp xã hội mới (công nhân, tư sản, trí thức), tạo điều kiện cho sự hình thành phong trào đấu tranh theo khuynh hướng mới.
Nhìn chung, những ảnh hưởng tích cực rất hạn chế và không thể bù đắp cho những tổn thất to lớn mà chế độ thực dân gây ra cho các dân tộc Đông Nam Á.
c. Liên hệ thực tế ở Việt Nam
Tại Việt Nam, chế độ thực dân (đặc biệt là thực dân Pháp) cũng để lại những ảnh hưởng tương tự. Việt Nam bị biến thành thuộc địa nửa phong kiến, mất hoàn toàn quyền tự chủ về chính trị, kinh tế và ngoại giao. Nhân dân bị bóc lột nặng nề, đất nước rơi vào tình trạng nghèo nàn, lạc hậu.
Tuy nhiên, chính trong hoàn cảnh đó, các giai cấp mới như công nhân và trí thức Việt Nam đã ra đời, tiếp thu những tư tưởng tiến bộ của thời đại. Điều này góp phần thúc đẩy sự phát triển của phong trào yêu nước theo con đường cách mạng vô sản, dẫn tới thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, giành lại độc lập cho dân tộc.
Từ thực tế lịch sử đó, Việt Nam càng nhận thức sâu sắc giá trị của độc lập, chủ quyền và tự do, đồng thời rút ra bài học quan trọng về tinh thần đoàn kết dân tộc và ý chí đấu tranh chống mọi hình thức áp bức, xâm lược.
a. Những chính sách cai trị của thực dân phương Tây ở Đông Nam Á
Sau khi xâm chiếm Đông Nam Á, các nước thực dân phương Tây đã thiết lập bộ máy cai trị nhằm thống trị và khai thác thuộc địa. Nhìn chung, họ áp dụng hai hình thức cai trị là trực tiếp và gián tiếp, nhưng đều phục vụ lợi ích của chính quốc. Về chính trị, thực dân xóa bỏ hoặc hạn chế quyền lực của các triều đình bản địa, đặt quan chức thực dân nắm quyền cao nhất, đàn áp các phong trào đấu tranh của nhân dân. Về kinh tế, chúng tiến hành bóc lột tài nguyên, chiếm ruộng đất, mở đồn điền, khai thác khoáng sản, đánh thuế nặng để vơ vét của cải. Về văn hóa – xã hội, thực dân thi hành chính sách nô dịch, truyền bá văn hóa phương Tây một cách có chọn lọc, kìm hãm giáo dục bản địa nhằm duy trì sự thống trị lâu dài.
b. Ảnh hưởng của chế độ thực dân đối với các nước thuộc địa ở Đông Nam Á
Chế độ thực dân đã gây ra những tác động sâu sắc và lâu dài đối với các nước Đông Nam Á. Trước hết, về tiêu cực, nền kinh tế truyền thống bị phá vỡ, các nước bị biến thành nơi cung cấp nguyên liệu và tiêu thụ hàng hóa cho chính quốc, nhân dân bị bóc lột nặng nề, xã hội phân hóa sâu sắc. Văn hóa dân tộc bị xâm lấn, đời sống nhân dân lầm than. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có những ảnh hưởng tích cực hạn chế, như sự du nhập của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, cơ sở hạ tầng (đường sá, bến cảng), sự hình thành giai cấp công nhân và tư sản bản xứ, tạo điều kiện cho sự ra đời của các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc sau này.
c. Liên hệ với thực tế ở Việt Nam
Ở Việt Nam, dưới ách thống trị của thực dân Pháp, đất nước ta cũng chịu những ảnh hưởng tương tự như các nước Đông Nam Á khác. Thực dân Pháp thiết lập bộ máy cai trị chặt chẽ, bóc lột kinh tế, đàn áp phong trào yêu nước, khiến nhân dân rơi vào cảnh đói nghèo, mất tự do. Tuy nhiên, chính quá trình khai thác thuộc địa đã làm xuất hiện các giai cấp mới như công nhân và tư sản, tiếp thu tư tưởng tiến bộ từ phương Tây. Điều đó góp phần thúc đẩy sự ra đời của các phong trào yêu nước theo khuynh hướng mới, tiêu biểu là sự thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930, mở ra con đường đấu tranh giành độc lập đúng đắn cho dân tộc.
a. Những chính sách cai trị của thực dân phương Tây ở Đông Nam Á:
Chính trị:
Thiết lập bộ máy cai trị thuộc địa; áp dụng hai hình thức cai trị trực tiếp và gián tiếp để dễ kiểm soát các nước thuộc địa.
Kinh tế:
Tiến hành khai thác thuộc địa, bóc lột tài nguyên và sức lao động của nhân dân; mở đồn điền, khai mỏ, phát triển một số ngành phục vụ lợi ích của chính quốc.
Xã hội:
Thi hành chính sách chia rẽ dân tộc, tôn giáo, đàn áp các phong trào đấu tranh của nhân dân.
Văn hóa – giáo dục:
Truyền bá văn hóa phương Tây nhằm phục vụ việc cai trị và đồng hóa dân bản địa.
b. Ảnh hưởng của chế độ thực dân đối với các nước Đông Nam Á:
Tiêu cực:
Nhân dân bị bóc lột nặng nề, đời sống khó khăn.
Kinh tế bị lệ thuộc vào chính quốc.
Xã hội bất công, nhiều mâu thuẫn.
Một số ảnh hưởng tích cực hạn chế:
Một số yếu tố kinh tế mới xuất hiện như giao thông, đô thị, kinh tế hàng hóa.
Hình thành một số tầng lớp xã hội mới.
c. Liên hệ với Việt Nam:
Việt Nam cũng bị thực dân Pháp đô hộ và khai thác thuộc địa, nhân dân bị áp bức và bóc lột nặng nề.
Kinh tế nước ta bị phụ thuộc vào Pháp, xã hội xuất hiện nhiều giai cấp và tầng lớp mới.
Chính sự áp bức đó đã làm bùng nổ các phong trào đấu tranh giành độc lập của nhân dân Việt Nam.
Quảng cáo
Bạn cần hỏi gì?
Câu hỏi hot cùng chủ đề
-
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
51286 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
44424 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
38948 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
36264 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
35347 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
34647 -
33222
