Quảng cáo
3 câu trả lời 198
Phân tích truyện ngắn “Lão Hạc” của Nam Cao
Nam Cao là một trong những nhà văn hiện thực xuất sắc của văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945. Truyện ngắn “Lão Hạc” là một tác phẩm tiêu biểu, thể hiện sâu sắc tấm lòng nhân đạo và tài năng nghệ thuật của ông. Qua hình tượng nhân vật Lão Hạc, Nam Cao đã phản ánh số phận bi thảm của người nông dân nghèo trong xã hội cũ và ca ngợi phẩm chất lương thiện, tình phụ tử cao quý của họ.
Lão Hạc là một nông dân nghèo, sống cô đơn cùng con chó Vàng – kỷ vật mà người con trai để lại. Cuộc sống của ông vốn đã khổ cực, lại càng khốn khó hơn khi thiên tai, mất mùa và bệnh tật liên tiếp ập đến. Vì thương con, không muốn bán mảnh vườn – tài sản duy nhất dành cho con trai, Lão Hạc đã phải chịu đói khổ và cuối cùng buộc lòng bán con chó Vàng. Sau khi bán chó, ông sống trong dằn vặt, đau khổ và chọn cái chết bằng bả chó để giữ trọn nhân cách và lòng trung thực.
Cái chết dữ dội của Lão Hạc không chỉ khiến người đọc xót xa mà còn bộc lộ giá trị nhân đạo sâu sắc của Nam Cao. Nhà văn không chỉ thương cảm cho số phận nghèo khổ của người nông dân mà còn trân trọng, ngợi ca phẩm chất cao quý của họ – dù nghèo đói, họ vẫn giữ lòng tự trọng và tình yêu thương con vô bờ bến.
Nghệ thuật kể chuyện chân thực, giọng văn giản dị, giàu cảm xúc cùng cách khắc họa tâm lý tinh tế đã làm cho “Lão Hạc” trở thành một tác phẩm có sức sống lâu bền.
Tóm lại, “Lão Hạc” là bức tranh chân thực, cảm động về cuộc đời người nông dân trước Cách mạng. Tác phẩm không chỉ tố cáo xã hội bất công mà còn thể hiện tấm lòng nhân đạo bao la của Nam Cao – người suốt đời đi tìm “con người trong con người”.
Trong kho tàng văn học Việt Nam hiện đại, Nguyễn Minh Châu được biết đến là nhà văn của những suy tư về con người, về cuộc sống và nghệ thuật. Một trong những tác phẩm tiêu biểu của ông là truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”, nơi mà hình ảnh con người và cuộc đời được khắc họa một cách tinh tế, sâu sắc.
Truyện kể về Phùng – một nhiếp ảnh gia chiến trường – trong một chuyến công tác, bắt gặp một cảnh tượng tuyệt đẹp: một chiếc thuyền mù sương, sóng biển lấp lánh, hiện lên như một bức tranh thuở mới sáng. Cảnh tượng ấy gợi lên trong ông cảm xúc thẩm mỹ mãnh liệt, đồng thời là cơ sở để nhà văn đặt ra câu hỏi về mối quan hệ giữa cái đẹp và cái xấu, giữa hiện tượng bề ngoài và thực tại sâu kín. Qua đó, Nguyễn Minh Châu dẫn dắt người đọc đi từ vẻ đẹp thiên nhiên đến những bi kịch đời thường.
Điểm đặc sắc của tác phẩm nằm ở sự đối lập giữa cái đẹp và cái dữ. Cảnh biển ban sáng trông yên bình, thơ mộng, nhưng phía sau ấy là hiện thực đau lòng của một gia đình đánh đập nhau, nơi con người phải chịu cảnh bạo lực, bất công. Sự đối lập ấy khiến độc giả vừa rung động trước vẻ đẹp nghệ thuật vừa day dứt trước những bi kịch xã hội. Nguyễn Minh Châu không đưa ra những lời phán xét trực tiếp mà để cho người đọc tự cảm nhận, tự suy ngẫm về cuộc đời.
Ngoài ra, hình ảnh nhân vật Phùng cũng mang ý nghĩa biểu tượng. Ông vừa là người nghệ sĩ tinh tế, biết trân trọng vẻ đẹp, vừa là người trăn trở, suy ngẫm về thân phận con người. Qua trải nghiệm của Phùng, tác giả nhấn mạnh rằng nghệ thuật không chỉ là việc ghi nhận cái đẹp bề ngoài mà còn là việc thấu hiểu cuộc sống, đồng cảm với con người.
Từ truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”, ta nhận ra thông điệp sâu sắc về cách nhìn nhận cuộc sống: cái đẹp và cái xấu luôn tồn tại song song, và con người cần biết yêu thương, cảm thông để tìm thấy sự bình yên và nhân văn trong đời sống. Tác phẩm vừa đánh thức cảm xúc thẩm mỹ, vừa khơi dậy suy nghĩ về giá trị nhân đạo, làm giàu thêm nhận thức của người đọc về cuộc sống.
Kết luận:
Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” là một minh chứng cho tài năng của Nguyễn Minh Châu trong việc kết hợp cái đẹp nghệ thuật với cái nhìn nhân đạo sâu sắc. Qua tác phẩm, người đọc được mời gọi vừa thưởng thức vẻ đẹp, vừa trăn trở trước bi kịch đời thường, từ đó thấu hiểu và đồng cảm với con người hơn.
Nhà thơ lừng danh người Mỹ Ralph Emerson từng có câu nói rất hay rằng: “Yêu cái đẹp là thường thức. Tạo ra cái đẹp là nghệ thuật. Nhưng biết trân trọng cái đẹp mới là người nghệ sĩ chân chính.” Có lẽ từ lâu nhà văn Nguyễn Tuân đã sớm thấm nhuần tư tưởng trên mà cả cuộc đời ông là một chặng đường say mê đi tìm cái đẹp thanh cao, cái đẹp của chuẩn mực tạo hoá. Tác phẩm Chữ người tử tù của ông đã khắc hoạ rất thành công chân dung vẻ toàn mỹ, dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào thì nó vẫn luôn toả sáng và trường tồn với thời gian.
Nguyễn Tuân (1910 – 1987) xuất thân trong một gia đình Nho giáo, quê ông ở làng Mọc nay là phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Nguyễn Tuân là nhà văn lớn có đóng góp vô cùng quan trọng cho nền văn học Việt Nam hiện đại, cả đời ông say mê đi tìm cái đẹp trong cuộc sống để từ đó thổi hồn vào trong các tác phẩm của mình những làn gió mới, những vẻ đẹp nhân văn cao đẹp. Các tác phẩm chính của ông gồm có : Một chuyến đi (1938), Vang bóng một thời (1940), Sông Đà (1960),… Truyện ngắn Chữ người tử tù lúc đầu có tên là Dòng chữ cuối cùng in năm 1939 tên tạp chí Tao Đàn, sau đó được in trong tập truyện Vang bóng một thời và đổi tên thành Chữ người tử tù. Hình tượng Huấn Cao – một con người tài hoa, lỗi lạc với ý chí hiên ngang, bất khuất, cho dù là chí lớn không thành nhưng ông cũng không bao giờ gục ngã, vẫn giữ cho mình tâm hồn thanh cao trước cảnh ngục tù tối tăm, u uất.
Thành công của một tác phẩm truyện ngắn là đến từ tình huống truyện đặc sắc, đó chính là chiếc chìa khóa thúc đẩy cốt truyện dâng lên cao trào như cách mà Nguyễn Minh Châu từng nói đó là: “Tình thế của câu chuyện, là khoảnh khắc mà trong đó sự sống hiện ra rất đậm đặc”. Chữ người tử tù cũng là một câu chuyện như thế, Nguyễn Tuân đã đặt nhân vật của mình vào nghịch cảnh trớ trêu, cuộc hội ngộ giữa hai thế lực đối lập. Một bên đại diện cho con người tài hoa khí phách, một bên là quyền lực tăm tối của xã hội phong kiến. Cuộc gặp gỡ diễn ra đầy kịch tính, lôi cuốn người đọc, cuối cùng vẻ đẹp thiên lương tao nhã đã thắng thế trước sự xã hội tàn bạo, xấu xa.
Chữ người tử tù xây dựng thành công tuyến nhân vật chính diện, họ là trung tâm đại diện cho cái đẹp thanh cao trong tâm hồn, dù ở trong hoàn cảnh nào, dù thực tại xã hội có dở bẩn ra sao cũng không thể nào làm vướng bẩn nhân cách thiên lương của họ. Trước tiên là hình tượng Huấn Cao – một vị anh hùng sa cơ, thất thế ông là người lãnh đạo nhân dân đứng lên đấu tranh đòi lại công bằng cho chính mình. Ấy thế mà trong con mắt của chế độ phong kiến ông lại bị gọi là kẻ “phản nghịch”, kẻ cầm đầu nguy hiểm cần phải tiêu diệt. Có ý kiến cho rằng Nguyễn Tuân sáng tạo hình tượng Huấn Cao dựa trên nguyên mẫu Cao Bá Quát – một người tài hoa, nghệ sĩ, tinh thần quả cảm và đặc biệt là có tài viết chữ đạt đến độ tuyệt mỹ. Huấn Cao là cách gọi kính trọng, là một người mang họ Cao giữ chức huấn đạo – chức quan trông coi việc học ở một huyện.
Nguyễn Tuân khắc hoạ vẻ đẹp của nhân vật Huấn Cao qua nhiều bình diện để thấy được cái vẻ đẹp thanh cao đạt đến chân – thiện – mỹ của một người tài hoa bậc nhất. Trước tiên, nhà văn miêu tả Huấn Cao là một người nghệ sĩ tài hoa, lừng danh khắp chốn. Ông xuất hiện gián tiếp trong câu chuyện của viên quản ngục và thầy thơ lại, là người mà “vùng tỉnh Sơn ta vẫn khen cái tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp”, không những thế ông còn có tài “bẻ khoá và vượt ngục”. Huấn Cao hiện lên trong tác phẩm quả là một người “văn võ song toàn”, hội tụ tất cả những khí chất của một người anh hùng tài ba. Tác giả giới thiệu Huấn Cao với lối miêu tả gián tiếp là hoàn toàn có dụng ý khéo léo, chu toàn ông muốn để cho nhân vật của mình xuất hiện một cách tự nhiên mà không đường đột, từ đó cho người đọc thấy được hình tượng nhân vật phi thường tiếng thơm đã truyền đi khắp nhân gian, khi nhắc đến tên tuổi cả viên quản ngục hay thầy thơ lại đều đã từng nghe qua. Cái tài hoa, nghệ sĩ của ông Huấn cao còn được bộc lộ rõ nét nhất khi viên quản ngục bất chấp hiểm nguy, chỉ với hy vọng có được chữ của ông, chữ ông “đẹp lắm, vuông lắm” chỉ cần có một đôi câu đối của Huấn Cao treo trong nhà coi như là “y đã mãn nguyện” bội phần, dường như trên đời sẽ chẳng có gì có thể làm cho viên quản ngục hạnh phúc hơn thế nữa.
Huấn Cao còn là vị anh hùng với khí phách hiên ngang ngút trời, dù lâm vào cảnh tù đày đối diện với án tử nhưng ông chẳng một chút sợ hãi vẫn giữ cho mình nhân cách thanh cao, không nhún nhường trước cường quyền táo bạo. Trước lời giễu cợt của bọn lính cai ngục, Huấn Cao im lặng “lạnh lùng, chúc mũi gông nặng, khom mình thúc mạnh đầu thang gông xuống thềm đá tảng” một hành động dứt khoát như là lời cảnh báo chắc nịch của người tử tù với bọn nha sai hách dịch, cậy quyền. Trong ngục tù tăm tối ông thản nhiên, ung dung “nhận rượu thịt, coi như đó là một việc vẫn làm trong cái hứng sinh bình”, thật là hiếm có người tù nào sắp chết mà vẫn giữ thái độ điềm nhiên, bình thản được như Huấn Cao. Chẳng sợ cường quyền, khinh bạc chế độ xã hội tàn bạo dù biết trước sẽ phải đối đầu với một trận “lôi đình báo thù và những thủ đoạn tàn bạo” thế nhưng người anh hùng cũng chẳng thể dối lòng “Ngươi hỏi ta muốn gì? Ta chỉ muốn có một điều. Là ngươi đừng đặt chân vào đây” Câu nói thẳng thừng như gáo nước lạnh tạt thẳng vào bộ mặt phong kiến.
Nguyễn Tuân còn miêu tả người anh hùng kiên cường mang tấm lòng thiên lương cao cả. Huấn Cao từ thuở sinh thời không bao giờ ham phù hoa, danh lợi mà bán chữ. Đời ông cũng chỉ viết có “hai bộ tứ bình và một bức trung đường” cho những người bạn tri kỷ. Ông quan niệm cái đẹp thanh cao phải được trao cho đúng người mới phát huy được hết giá trị của nó. Huấn Cao đã bị cảm động trước sự đối đãi chân tình “biệt nhỡn liên tài” của chủ tớ Viên quản ngục. Tấm lòng nhân hậu không muốn phụ “một tấm lòng trong thiên hạ”.
Ngoài nhân vật trung tâm Huấn Cao, Nguyễn Tuân còn xây dựng thêm một tuyến nhân vật viên quản ngục, một người yêu thích cái đẹp, tâm hồn tài hoa nghệ sĩ nhưng lại bị lạc vào chốn nhơ bẩn, dung tục. Nhà văn xây dựng đồng thời hai nhân vật chính diện song song soi chiếu cho nhau tỏa sáng với vẻ đẹp tâm hồn tao nhã. Viên quản ngục dường như chọn nhầm nghề, ông là “một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ”. Như cách mà tác giả nói “Ông trời nhiều khi chơi ác, đem đày ải những cái thuần khiết vào giữa một đống cặn bã”. Thật đáng trân trọng sống giữa một xã hội rối ren, loạn lạc mà vẫn giữ cho tâm hồn mình không vị vùi lấp trong bùn lầy, ông còn còn biết trân trọng cái đẹp, biết nể trọng người tài, là người dũng cảm bất chấp hiểm nguy.
Vào một đêm hoang vắng, tại trại giam tỉnh Sơn đã xảy ra “một cảnh tượng xưa nay chưa từng có”. Trong buồng giam tăm tối, chật hẹp, mùi ẩm mốc bốc lên, xung quanh là đầy nhưng mạng nhện giăng, mùi hôi thối của phân chuột, phân gián. Trong không khí khói tỏa, ngọn lửa đỏ rực của ngọn đuốc đang cháy hừng hực. “Một người tù, cổ đeo gông, chân vướng xiềng, đang đậm tô nét chữ trên tấm lụa trắng tinh”, viên quản ngục “khúm núm”, thầy thơ lại “run run bưng chậu mực”, vị thế nhân vật dường như đổi dời người nắm quyền thế bỗng dưng khép nép, kính cẩn trước một tử tù. Cái đẹp không lẻ loi đơn độc, nó không tồn tại cùng cái xấu xa mà chiến thắng chúng, nhân đạo hoá những tâm hồn đang vướng bụi trần giúp họ thức tỉnh, tìm lại con người nhân nghĩa vốn có của mình.
Chữ người tử tù của tác giả Nguyễn Tuân là một thiên truyện đã đạt “gần tới sự toàn diện, toàn mỹ”. Tác phẩm thể hiện phong cách nghệ thuật tài tình của nhà văn, tạo dựng thành công tình huống truyện độc đáo, khắc họa tính cách nhân vật qua thủ pháp đối lập, tương phản gay gắt, ngôn ngữ trang trọng giàu hình ảnh sinh động. Qua truyện, tác giả đã khẳng định sự tồn tại vĩnh cửu của cái đẹp, thể hiện lòng yêu nước thầm kín của Nguyễn Tuân.
Quảng cáo
Bạn cần hỏi gì?
Câu hỏi hot cùng chủ đề
-
Đã trả lời bởi chuyên gia
251365 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
79135 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
63272 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
62588 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
53413 -
47408
-
Đã trả lời bởi chuyên gia
44256 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
41984 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
41828
