Quảng cáo
3 câu trả lời 303
TÁC PHẨM VĂN HỌC TRONG TÔI – BÀI THƠ “TIẾNG GÀ TRƯA” CỦA XUÂN QUỲNH
Trong cuộc sống, có những âm thanh bình dị tưởng chừng rất nhỏ bé, nhưng lại có sức lay động lòng người vô cùng sâu sắc. Với tôi, bài thơ “Tiếng gà trưa” của nhà thơ Xuân Quỳnh chính là một tác phẩm như thế — giản dị mà thấm đượm yêu thương, nhẹ nhàng mà gợi dậy bao kỷ niệm thân thương về gia đình và tuổi thơ.
Bài thơ kể lại cảm xúc của người cháu trên đường hành quân, nghe tiếng gà trưa mà nhớ về bà, về những ngày tuổi nhỏ bình yên nơi quê nhà. Từ một âm thanh quen thuộc, Xuân Quỳnh đã mở ra cả một thế giới ký ức đầy ấm áp. Tiếng gà trưa “ổ trứng hồng những trứng” không chỉ gợi hình ảnh con gà, cái ổ, mà còn là biểu tượng của tình yêu thương, của tuổi thơ trong trẻo và sự chở che bao dung của người bà.
Điều khiến tôi yêu bài thơ này không chỉ ở ngôn từ mộc mạc, gần gũi, mà còn ở tình cảm chân thành, sâu lắng ẩn trong từng câu chữ. Giữa cuộc đời bộn bề, tiếng gà trưa trong thơ Xuân Quỳnh như một tiếng gọi tha thiết đưa ta trở về với nguồn cội, với vòng tay ấm áp của gia đình. Tác giả đã cho tôi hiểu rằng: tình bà cháu, tình quê hương – chính là cội nguồn nuôi dưỡng tâm hồn con người.
Qua bài thơ, tôi học được một điều quý giá: Dù đi đâu, làm gì, trong tim mỗi người vẫn luôn có một nơi để nhớ về – đó là mái nhà, là người thân yêu. Chính tình cảm ấy nuôi dưỡng ước mơ, ý chí và lòng yêu nước trong ta.
“Tiếng gà trưa” không phải là một bản anh hùng ca, mà là một bản tình ca dịu dàng về tuổi thơ, về tình thương và lòng biết ơn. Nó khiến tôi thêm yêu những điều giản dị quanh mình, thêm quý trọng người thân, và nhận ra rằng: hạnh phúc không ở đâu xa, mà ở ngay trong những ký ức ấm áp ta mang theo suốt đời.
Bài thơ “Tiếng gà trưa” của Xuân Quỳnh đã để lại trong tôi một dấu ấn sâu đậm. Nó giúp tôi hiểu rằng trong mỗi bước đi của đời người, tiếng gọi yêu thương từ gia đình vẫn luôn vang lên, nâng đỡ và tiếp sức cho ta. Với tôi, đó không chỉ là một bài thơ – mà là một lời nhắc nhở đầy yêu thương về cội nguồn, về tình thân và về chính trái tim con người Việt Nam.
Được! Mình sẽ giúp bạn lập dàn ý và viết bài nghị luận về một tác phẩm văn học yêu thích. Mình sẽ chọn ví dụ truyện ngắn “Chiếc lá cuối cùng” của O. Henry (bạn có thể thay bằng thơ hay truyện khác bạn thích).
Đề bài:
Viết bài văn nghị luận về tác phẩm văn học mà em yêu thích (thơ hoặc truyện).
Dàn ý gợi ý
1. Mở bài
Giới thiệu tác phẩm và tác giả.
Lý do bạn yêu thích tác phẩm.
Ví dụ:
“Chiếc lá cuối cùng” là một truyện ngắn nổi tiếng của O. Henry. Em yêu thích truyện này vì nó truyền tải thông điệp về tình người, lòng nhân ái và hy vọng trong cuộc sống.
2. Thân bài
a) Tóm tắt nội dung truyện
Nhân vật chính: Johnsy, Sue, ông Behrman.
Tình huống: Johnsy ốm nặng, mất niềm tin vào sự sống.
Cao trào: Ông Behrman vẽ chiếc lá cuối cùng để Johnsy giữ niềm tin.
Kết thúc: Johnsy khỏi bệnh, ông Behrman qua đời.
b) Phân tích giá trị nội dung
Giá trị nhân văn: lòng yêu thương, sự hy sinh, tinh thần lạc quan.
Thông điệp: Một hành động nhỏ nhưng đầy ý nghĩa có thể cứu sống tinh thần và cuộc sống con người.
c) Giá trị nghệ thuật
Nghệ thuật xây dựng nhân vật sống động, cảm xúc chân thực.
Ngôn ngữ đơn giản nhưng giàu hình ảnh và ý nghĩa biểu tượng.
d) Cảm nhận cá nhân
Truyện dạy em biết trân trọng sự sống, lòng tốt và niềm tin.
Em muốn học theo tấm gương ông Behrman trong việc giúp đỡ người khác.
3. Kết bài
Khẳng định tình cảm, suy nghĩ về tác phẩm.
Liên hệ đến cuộc sống bản thân: học cách sống tốt, biết yêu thương và hy vọng.
Ví dụ:
“Chiếc lá cuối cùng” nhắc nhở em rằng niềm tin và lòng nhân ái là sức mạnh kỳ diệu. Em sẽ học cách giúp đỡ người khác và sống trọn vẹn hơn.
Giống như những nhà thơ, nhà văn trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ, Bảo Ninh cũng viết về đề tài chiến tranh. Nhưng chiến tranh dưới góc nhìn của Bảo Ninh rất chân thực và khác biệt. Nó không mang màu sắc sử thi, hào hùng, thi vị, trái lại nó lại mang theo những nỗi buồn. Những nỗi buồn ấy là sản phẩm của chiến tranh, nó ăn sâu vào trong tâm hồn người để dần dà âm ỉ mà lan rộng ra, khiến con người ta đau đớn đến cùng cực. Có lẽ chính vì vậy mà các tác phẩm của Bảo Ninh luôn tác động mạnh mẽ đến người đọc, khiến bạn đọc cảm nhận được rõ nét cái nỗi đau ẩn sâu trong lòng nhân vật. Và nỗi đau ấy đã được Bảo Ninh khắc họa rất sâu sắc trong truyện ngắn Bí ẩn của làn nước.
Cũng xuất phát từ đề tài chiến tranh như truyện ngắn Giang hay tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh, trong Bí ẩn của làn nước, Bảo Ninh tiếp tục nhìn chiến tranh dưới lăng kính của nỗi buồn. Ở đây, nhà văn không thể hiện nỗi đau của người lính khi phải chịu đựng những nỗi ám ảnh, kinh hoàng trên chiến trường, nỗi đau mất đi bạn bè, người thân, người yêu trong chiến tranh mà ông lựa chọn khắc họa nỗi đau của những người nông dân trong chiến tranh.
Chiến tranh là những cuộc biến thiên của lịch sử và đi kèm với nó luôn là những mất mát, đau thương. Trong Bí ẩn của làn nước, chiến tranh đã đem đến một ám ảnh kinh hoàng đối với người dân nơi hậu phương: “Năm ấy, nhằm trúng đỉnh lũ đêm Rằm tháng Bảy, một loạt bom Mỹ phá tan vệt canh giữ đằng trước làng tôi. Dứt dây nổ của bom và tiếng gầm ghê rợn của máy bay cường kích là chuỗi ầm ầm long lỡ của dòng sông phá bung đê tràn ngang vào đồng ruộng”. Bom đạn đã phá vỡ đê điều, nhấn chìm làng mạc, đồng ruộng của những người nông dân, đẩy họ vào cảnh khốn cùng: “Nước đã ngập làng. Tôi về, kịp dìu vợ leo lên mái thì vừa đợt dâng nước thứ hai. Mái nhà tranh của vợ chồng tôi bị lôi đi trong đêm. Đến khi mái rạ saows rã tan ra thì ơn trời nó vương vào thân đa trước đình làng. Đã cả một đám đông bám trên các cành… Vợ tôi ôm khư khư đứa con mới inh, nhất định không để tôi bế đỡ.” Không dừng lại ở đó, những người dân giờ đây lại càng rơi vào bế tắc hơn khi nhiều giờ trôi qua mà mưa vẫn tiếp tục tuôn, gió tiếp tục thổi, dòng nước ngày một xiết hơn. Dòng nước xiết ấy không chỉ nhấn chìm làng mạc, cuốn trôi mọi tài sản của người nông dân mà còn cướp đi số mệnh của những người xấu số như những người phụ nữ yếu ớt, những đứa bé non nớt: “Vợ tôi “ối” kêu một tiếng thảng thốt, và “ùm”, con trai tôi, đứa con sơ sinh tôi chưa được nhìn thấy mặt, tuột khỏi bọc ni lông trên tay mẹ nó, san xuống làn nước tối tăm.
- Trời ơi! Con tôi...! - Vợ tôi hét rú lên và lao ngay lập tức xuống hòng chụp lấy con.
Tôi phóng mình theo. Nước lạnh, ngầu bùn, sâu hút và cuốn mạnh. Tôi vớ kịp thằng con, nhao vội lên, trao nó cho những bàn tay đang chìa xuống, rồi lại lặn tiếp ngay để cứu vợ.” Chiến tranh đã cướp mất đi tài sản, người vợ và cả đứa con trai mà nhân vật “tôi” còn chưa kịp nhìn mặt. Thời gian và làn nước năm ấy vẫn cứ mang theo cái bí mật mà anh chôn vùi, giấu kín trong lòng: “Từ bấy tới nay, thời gian trôi qua và triền nước trôi đi, tôi đã có tuổi và con gái tôi đã thành một thiếu nữ đẹp nhất làng. Nó là đứa con của làn nước, mọi người đều nói thế bởi vì chuyện nó sa xuống dòng nước lụt rồi được cha nó cứu lên thì cả làng ai cũng biết. Nhưng điều bí mật kia thì không ai hay, kể cả con gái tôi nó cũng không thể biết. Chỉ có dòng sông biết.” Nỗi đau đớn, ám ảnh năm ấy đã trở thành ẩn ức và nỗi buồn cứ âm ỉ cháy trong lòng của anh. Nỗi đau mất vợ và mất con trong cái đêm vỡ đê ấy sẽ đeo bám anh đến hết đời mà chẳng có cách nào chối bỏ: “Có ngày nào mà tôi không ra đê ngắm làn nước trôi. Vợ tôi, con trai tôi và người đàn bà vô danh nhìn tôi từ đáy nước. Thời gian, năm tháng cứ trôi, dòng sông và lịch sử tất thảy đều đổi thay nhưng mà niềm đau của đời tôi thì khôn nguôi bởi vì ấy là một niềm đau không thể nói nên lời.” Như vậy, chỉ trong thời gian một đêm mà biết bao sự kiện, bao nỗi đau đớn đã túa ra, ngập tràn cả trên trang sách.
Bên cạnh thời gian nghệ thuật, cốt truyện biên niên và nhân vật, Bảo Ninh đã rất thành công khi tạo dựng nên một không gian nghệ thuật chứa đựng nhiều nỗi kinh hoàng, hoảng sợ, đau đớn. Và trong không gian đó, con người bị đẩy đến bi kịch thê thảm nhất, tồi tệ nhất. Trong đêm tối, lồng trong tiếng nổ của bom đạn và máy bay cường kích là “chuỗi ầm ầm long lở của dòng sống phá bung đê tràn ngang vào đồng ruộng.”. Trong khung cảnh hỗn loạn, dòng nước nhấn chìm hết nhà cửa, làng mạc, ruộng đồng, người dân chỉ còn cách bám trụ trên các cành đa trước đình làng. Và trong làn nước ngày một xiết, cảnh những người xấu số bị dòng nước nuốt chửng bắt đầu hiện ra. Như vậy, chiến tranh là một nỗi khiếp sợ, nó đem đến những tai ương, những nỗi đau khủng khiếp cho con người. Trong truyện ngắn này, thông qua lăng kính của nhân vật “tôi”, chúng ta thấy được một hiện thực nghiệt ngã rằng những người nông dân không chỉ mất hết nhà cửa, tài sản mà còn mất đi vợ con, những người mà họ yêu thương, trân quý nhất. Không gian đau thương này kết hợp với thời gian ngắn ngủi càng nhấn mạnh hơn số phận mỏng manh của con người trong thời chiến. Con người bị đẩy đến những nỗi đau thương, mất mát tận cùng mà chẳng thể nào cứu vãn hay chữa lành được. Những nỗi đau ấy dần dần trở thành những điều bí ẩn mà con người chôn chặt trong lòng giống như cái điều bí ẩn trong đời của người đàn ông kia, hay của đứa bé gái luôn nằm sâu trong làn nước, vẫn cứ chảy trôi theo thời gian mà chẳng mất đi.
“Các dòng sông trôi đi như thời gian, và cũng như thời gian, trên mặt nước các triền sông biết bao nhiêu là chuyện đời đã diễn ra.”. Thật vậy, chiến tranh dù đã đi qua nhưng những nỗi đau, những mất mát mà nó để lại trong tâm hồn, trong cuộc đời của mỗi người vẫn còn đó. Đặc biệt trong truyện ngắn Bí ẩn của làn nước, ta có thể thấy được Bảo Ninh không chỉ tiếp cận đề tài chiến tranh thông qua nỗi đau thương, mất mát của những người lính mà còn qua nỗi đau đớn trong tâm hồn của những người nông dân. Qua đó, ông không chỉ thể hiện tinh thần phê phán, tố cáo chiến tranh mà còn thể hiện sự đồng cảm đối với những con người phải chịu đựng sự giày vò của chiến tranh.
Quảng cáo
Bạn cần hỏi gì?
Câu hỏi hot cùng chủ đề
-
Đã trả lời bởi chuyên gia
251365 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
79135 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
63272 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
62588 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
53413 -
47408
-
Đã trả lời bởi chuyên gia
44256 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
41984 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
41828
