II. Viết (6,0đ)
Đọc hai đoạn văn bản sau:
VB1.
(Lược đoạn mở đầu: Mẹ mất khi Đăng mới hai tuổi, bố đi lấy vợ khác. Đăng ở với ông bà ngoại)
… Đến bảy tuổi, Đăng chỉ quanh quẩn trong nhà. Nó ở với toàn người lớn. Người lớn không hiểu nó. Nó luôn cảm thấy tủi thân. Tóm lại là không thể bằng mẹ. Mẹ thì khác, dĩ nhiên rồi. Mẹ là hình ảnh tuyệt diệu, nó không hình dung là sẽ thế nào, nhưng rõ ràng nó cảm nhận được. Trong số bạn bè ít ỏi của Đăng có Thu. Thu bảy tuổi, có bố mẹ, có cả em nữa. Ở trong hoàn cảnh như thế nên ý nghĩ và tình cảm của Thu khác nó.
Thu hồn nhiên và khá tự do. Nó có thể đi chơi mà chẳng cần phải định giờ về. Nó khác Đăng. Đăng bị một loạt qui định kìm giữ. Ông bà ngoại Đăng luôn luôn căng thẳng trong trách nhiệm với đứa cháu mình. Từ việc chơi với Thu, điều này thật vô hại mà ông bà cũng đe nẹt, cấm đoán nó. Thu có đôi tai hồng và đôi mắt đen nháy. Không hiểu sao Đăng rất thích được ve vuất đôi tai hồng ấy và nhìn sâu vào đôi mắt đen nháy ấy. Mày nhìn như nuốt tao ấy. Mày tìm cái gì ở đấy
Đăng bối rối. ừ, nếu là mẹ thì chắc cũng có đôi mắt như vậy. Không thể khác được.
- Không, tao không tìm gì cả. - Nó đánh trống lảng. - Này, mày có hay khóc không?
- Thỉnh thoảng. Phải có cái gì mới khóc chứ. Ai lại tự nhiên đi khóc bao giờ?
Thế mà thỉnh thoảng tao lại tự nhiên khóc đấy - Đăng nói. Nó cố ngẫm nghĩ xem có lần nào nó tự nhiên khóc không?
- Đấy là hồn của mẹ mày. - Thu nghiêm trang nói. Nó đã nghe đến chuyện người ta gọi hồn. - Hồn mẹ mày về bảo: "Này Đăng, con khóc đi, khóc đi cho vơi nỗi buồn... "
- Nỗi buồn là gì? - Đăng hỏi.
- Không biết, nhưng nó cũng giống như đánh mất cái gì. Hôm qua tao đánh mất cái cặp tóc, thế là tao buồn.
° ° °
Vào lớp một, Đăng và Thu ngồi cùng một bàn. Với sự tiếp nhận thế giới xung quanh, Đăng luôn luôn cảm thấy thua kém Thu nhiều mặt. Thu dễ hòa hợp với bè bạn hơn. Nhận thức bài học cũng vậy Thu nhận thức nhanh hơn. Vô hình dung, Đăng cảm thấy có sự lệ thuộc nào đấy vào bạn. Một cách không tự giác, Thu như chỗ dựa cho Đăng về mặt tinh thần. Thu đứng ra bảo vệ cho Đăng trước các địch thủ trong lớp, nó nhắc nhở Đăng trong việc chuẩn bị bài vở. Cho đến lúc nào đó, Thu còn như lạm dụng vai trò của nó với Đăng. Bạn bè trong lớp đã chế giễu chúng:
- Cái Thu là mẹ, Thằng Đăng là con! Cái gì thằng Đăng cũng đều hỏi mẹ! Những lời như thế đầu tiên làm Đăng phẫn nộ.
Sau đó quen đi, một phần cũng do bản tính thụ động. Dần dà trong ý thức, Đăng có sự nể vì đặc biệt đối với Thu, sự nể vì đáng lẽ dùng cho người lớn. Thu rất tự hào về vai trò của nó đối với bạn. Nó nói với Đăng:
- Tao là mẹ mày! Thật đấy! Chúng nó nói không sai đâu!
Đăng cười bối rối, nó không tin Thu có thể trở thành mẹ. - Tuy thế, nó không bác lại. Thật ra, nó cần có mẹ. (…)
Ông bà ngoại Đăng thương chiều nó. Nó là của quý. Những thói hư tật xấu của nó thường bị ông bà nó đổ lỗi cho Thu. Tính lông bông ương bướng, thói giễu cợt, sự lười nhác, thậm chí cả việc chậm hiểu của đầu óc nó cũng do bạn nó. Đăng biết ông bà ngoại nó nhầm. Càng lớn lên nó càng bướng bỉnh, càng cô đơn và càng nhạy cảm hơn về thân phận côi cút của mình.
Một bữa, Đăng đánh vỡ tan ông Phúc trong bộ Tam Đa bằng sứ. Bà ngoại tiếc của mắng nó: - Đồ hậu đậu. Tất cả là từ cái con mẹ Thu nhãi ranh của mày. Đăng trào nước mắt, nó uất ức, tủi cực. Nó trốn xuống bếp ngồi trong bóng tối và tức tưởi khóc. Trên nhà bà ngoại của Đăng vẫn đang điên cuồng gào thét. Có tiếng tầu điện sầm sập chạy nhanh ngoài phố. Bỗng ý nghĩ về cái chết bật ra rất nhanh trong Đăng. Đúng rồi! Ngã xuống dưới đường ray! Cái khối sắt đồ sộ lướt qua và thế là hết. Chẳng phải làm gì, chẳng phải nghĩ ngợi. Mười phút nữa sẽ có chuyến tầu đi qua. Điều cần nhất là báo cho Thu. Nó là bạn tốt. Nó cắt nghĩa được cái chết. Ông Phúc trong bộ Tam Đa bằng sứ có nghĩa lý gì? Phúc-Lộc -Thọ có nghĩa lý gì? Đăng len lén mở cửa rồi chạy ra đường. Cái tầu điện cách ba trăm mét. Thu đứng ở vệ đường.
- Mày sao thế? - Thu ngơ ngác.
Đăng chấp chói. Mặt nó tái đi không còn thần sắc. Cái tầu điện lướt qua. - Tròi ơi - Thu đẩy Đăng ra rồi ngã vật xuống.
Nó ngất đi.
° ° °
Đăng không chết, vì do Thu đẩy ngã. Còn Thu lại bị tàu điện cán gẫy nát chân. Người ta đưa cả hai đứa đi viện. Đăng sốt cao, suốt đêm cứ vật vã nói mê liên hồi:
- Mẹ... mẹ... mẹ... mẹ...
Tiếng "mẹ" của nó như tiếng gió thổi ở ngoài đầu hồi. (…)
(Trích truyện ngắn Tâm hồn mẹ, Nguyễn Huy Thiệp, https://isach.info/story.php?story=tam_hon_me__nguyen_huy_thiep)
VB2.
Nắng hệt một chảo mật nấu sôi, và những con người bé nhỏ ngụp lặn trong ấy chín nhừ, mặt mày đỏ lựng. Thỉnh thoảng Khờ dừng lại để chờ tôi lúc này hồng hộc thở, bước từng bậc đá bằng đôi chân không biết của ai. Dù nó đã lên xuống núi mười bảy lần trong ngày, gánh nước uống cho chục ngoài hộ dân sống trên ấy. Hỏi Khờ sắp tới nơi chưa, nó kêu xíu nữa. Chữ “xíu” không làm tôi mừng, vì biết mình còn trèo nhiều dốc đá mới chạm chân đỉnh núi trọc bon không cây cối. “Đám đá này mơi mốt trổ bông”, Khờ nói. Năm Khờ chín tuổi, mẹ dắt nó lên ngọn núi Trời này, bảo ngồi đó đợi đá trổ bông mẹ lên đón. Rồi bà mẹ trẻ xuống núi, biệt dạng. Chị chủ quán nước ngay bên sườn núi vẫn còn nhớ gương mặt cô gái đó, “trẻ măng, đem con đi bỏ mà mặt tỉnh bơ, trửng giỡn với mấy thằng kiếm củi”. Chắc là sớm làm mẹ đơn thân, không mang vác nổi thằng nhỏ khờ căm đặt đâu ngồi đó. Chắc là ngủ quên trên cỏ rồi đẻ Khờ, như những bà mẹ Việt cổ xưa vẫn cấn bầu nhờ uống nước trong gáo dừa, ướm chân vào dấu chân lạ.
Thằng nhỏ từng có cái tên tử tế, nhưng người xóm núi quên mất rồi. Nói cho cùng, làm gì có tên nào hợp với nó, bằng tên Khờ. Trong thân xác thằng con trai sắp ba mươi, là một trí khôn của trẻ con năm bảy tuổi. Thời gian không làm mai một cái niềm tin rồi đá trổ bông, mẹ đón về. Sống nhờ chén cơm của cư dân triền núi, nhưng Khờ chưa bao giờ làm họ tiếc vì đã nuôi dưỡng mình. Nhờ chi thằng nhỏ cũng làm, và nặng nhọc cỡ nào cũng không than vãn. Mưa nó đi cọ rửa những bậc đá đóng rêu, che giúp mái nhà ai đó, cõng bà Chín Sầu Đâu đi hốt thuốc nam chữa đau khớp, đón thằng Đen kẹt ở trường trong giông gió. Hạn qua nó kiếm củi phơi khô chất đầy miễu hoang, cả xóm xài mút mùa không hết. Mùa khô nào họ cũng uống nước mưa một tay Khờ gánh, từ ngôi chùa gần chân núi Xanh.
Suốt ba chục năm, duy nhất một lần Khờ rời núi chừng tuần lễ. Nó bị sét đánh. Cái đầu trọc của núi mà nó đang chăn giữ, không hiểu sao hay bị sét xuống thăm, đến cây cối không mọc nổi. Bữa đó giông khô, Khờ lom khom gom mớ thuốc nam chùa gửi phơi, thì bị sét quật lăn ra, tóc cháy xém. Câu đầu tiên nó nói khi tỉnh dậy, “đá trổ bông chưa?”
Tới ông trời còn không bứng thằng Khờ ra khỏi mớ đá đó, người núi Xanh nói. Đúng lúc Khờ lại thêm một lượt gánh nữa ngang qua chỗ quán nước tôi ngồi cùng mấy bà trong xóm, nhe răng cười. Ở Khờ không có vẻ gì bơ vơ, dù đang một mình bơi giữa đá và nắng. Ngay khi nó bị che khuất bởi một cua gắt trên đường mòn, cũng để lại cảm giác ấm áp, chắc nịch. Khó giải thích, nhất là nhân vật ấy mang trong mình một câu chuyện mủi lòng.
Hỏi mẹ Khờ có từng quay lại không, người núi Xanh nói biết đâu, giờ nhiều du khách lên đây, mặt mũi ai cũng dáo dác như ai, nhớ sao nổi người phụ nữ mấy chục năm về trước. Thằng nhỏ hay bị du khách ghẹo, họ xưng mẹ nè con, mau về với mẹ. “Mẹ tui nói chừng đá trổ bông mới lên đón, giờ có trổ xíu nào đâu”, Khờ nói. Chỉ một lời dối ầu ơ, nhưng với bộ não ngờ nghệch của Khờ, đã thành một thứ dây trói bền dai, buộc nó mãi trên đỉnh núi. Mẹ Khờ có ở đây, chắc gì lay chuyển được nó, đá chưa nở bông nào.
Dân núi Xanh có lần hối tiếc, khi xúm nhau thuyết phục Khờ, rằng đám đá đó đâu thể trổ bông được, sét đánh quá chừng mà, nhìn thì biết, tới cỏ còn không mọc nổi. Khờ nói luôn, vậy mấy cục đá hong bị trời đánh thể nào cũng có bông. Từ bữa đó nó leo trèo khắp núi. Lo bông đá đang trổ ở hang hốc nào đó, nơi nó chưa mò tới. Còn cả xóm thì phấp phỏng sợ nó trượt chân.
Mình mà nói núi này đá đực khó ra bông, Khờ sẽ hỏi, vậy núi nào mới có? Tôi hình dung vậy, khi ngó thằng nhỏ vừa gánh xong đôi nước cuối cùng trong ngày, đổ vào cái khạp da bò đặt ngay đỉnh trọc. Nước ấy dành cho du khách uống đỡ khát. Dù họ chỉ dùng rửa mặt, rửa chân, hắt vào người nhau cho vui.
Nắng vẫn xéo xắt, chưa chịu nguội. Tôi quay lại đúng cái chân núi mà vài tiếng đồng hồ trước mình đứng ngán ngẩm vì nắng và hồ Xanh cạn đáy. Nghĩ chắc cũng không cần trèo lên chi, quá biết trên đó có những thứ gì, lại miễu cậu miễu cô, lại những quán xá đu theo vách đá, lại bày bán mấy thứ thần dược từ cỏ cây meo mốc chớ đâu. Nhưng Khờ xuất hiện, với đôi thùng nước treo đầu gánh, rủ khơi khơi, lên núi chơi, bông đá nay mai sẽ trổ.
(Trích “Đá trổ bông”- Nguyễn Ngọc Tư, sachhayonline)
Ghi chú
-Nguyễn Huy Thiệp (29/4/1950 – 20/03/2021) là nhà văn đương đại Việt Nam trong địa hạt kịch, truyện ngắn và tiểu thuyết với những góc nhìn mới, táo bạo. Ông xuất hiện khá muộn trên văn đàn (1986) nhưng được coi là người đạt đỉnh cao nghệ thuật của truyện ngắn với một loạt tác phẩm như: Tướng về hưu, Không có vua, Tuổi 20 yêu dấu, Những ngọn gió Hua Tát, Những người thợ xẻ, Chảy đi sông ơi, Con gái thủy thần, Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết...
- Nguyễn Ngọc Tư (1976) là nữ nhà văn trẻ của Hội nhà văn Việt Nam. Với niềm đam mê viết lách, chị miệt mài viết như một cách giải tỏa và thể nghiệm, chị biết rằng chị muốn viết về những điều gần gũi nhất xung quanh cuộc sống của mình. Giọng văn chị đậm chất Nam bộ, là giọng kể mềm mại mà sâu cay về những cuộc đời éo le, những số phận chìm nổi. Cái chất miền quê sông nước ngấm vào các tác phẩm, thấm đẫm cái tình của làng, của đất, của những con người chân chất hồn hậu nhưng ít nhiều gặp những bất hạnh.
Anh/chị hãy viết bài văn so sánh, đánh giá về niềm khao khát tình thân trong tâm hồn hai đứa trẻ Đăng và Khờ trong hai đoạn trích trên.
Quảng cáo
4 câu trả lời 1579
Bài làm
Tình thân – đặc biệt là tình mẹ – luôn là sợi dây thiêng liêng nuôi dưỡng tâm hồn con người. Trong hai đoạn trích Tâm hồn mẹ của Nguyễn Huy Thiệp và Đá trổ bông của Nguyễn Ngọc Tư, hai đứa trẻ là Đăng và Khờ đều mang trong mình nỗi khao khát tình mẹ da diết, nhưng mỗi đứa lại biểu hiện nỗi khao khát ấy theo một cách riêng, vừa khiến người đọc xót xa, vừa gợi suy ngẫm sâu sắc về thân phận và khát vọng yêu thương của con người.
1. Nỗi khao khát tình mẹ trong tâm hồn Đăng
Đăng là một đứa trẻ mồ côi mẹ từ nhỏ, sống với ông bà ngoại, thiếu vắng sự yêu thương và thấu hiểu. Cậu khép kín, cô đơn và nhạy cảm. Trong tâm hồn non nớt ấy, hình ảnh người mẹ trở thành một biểu tượng thiêng liêng và mơ hồ: “Mẹ là hình ảnh tuyệt diệu, nó không hình dung là sẽ thế nào, nhưng rõ ràng nó cảm nhận được.”
Câu văn giản dị mà gợi biết bao thương cảm: Đăng chưa từng nhớ mặt mẹ, nhưng trái tim vẫn “nhói” khi nghe nhắc đến hai chữ mẹ ơi.
Trong tình bạn với Thu, ta thấy rõ Đăng luôn tìm kiếm bóng dáng của mẹ trong người bạn gái nhỏ ấy – người có đôi mắt đen nháy, đôi tai hồng và một tấm lòng ấm áp. Khi Thu nói “Tao là mẹ mày!”, Đăng không phản đối, bởi trong sâu thẳm, cậu rất cần một người mẹ để được chở che.
Đỉnh điểm của nỗi khao khát ấy là khi Đăng bị mắng oan, tủi cực, nghĩ đến cái chết để “vơi nỗi buồn”. Chính trong giây phút tuyệt vọng ấy, tiếng gọi “Mẹ… mẹ… mẹ…” bật ra trong cơn mê sảng – như một tiếng kêu từ bản năng, từ nơi sâu nhất của trái tim.
Qua hình tượng Đăng, Nguyễn Huy Thiệp cho thấy: khao khát tình mẫu tử là bản năng tự nhiên và là nhu cầu tinh thần mãnh liệt của con người, đặc biệt với những tâm hồn bị thiếu thốn yêu thương.
2. Niềm khao khát tình mẹ trong tâm hồn Khờ
Nếu Đăng khao khát mẹ trong nỗi cô đơn tủi thân, thì Khờ – nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư – lại mang nỗi khao khát ấy suốt một đời chờ đợi, đơn sơ mà ám ảnh.
Khờ bị mẹ bỏ lại trên núi khi mới chín tuổi, với lời dặn “ngồi đó đợi đá trổ bông mẹ lên đón.” Lời dối giản đơn ấy, với người bình thường chỉ là một câu nói qua loa, nhưng với Khờ – một tâm hồn ngây dại – lại trở thành lời hứa thiêng liêng nhất đời.
Suốt ba mươi năm, Khờ sống giữa núi đá, gánh nước, giúp dân làng, và chưa bao giờ quên lời mẹ. Nỗi chờ đợi của Khờ không chỉ là đợi mẹ, mà là đợi tình thương, đợi một phép màu để được yêu thương trở lại.
Nguyễn Ngọc Tư đã khắc họa hình ảnh Khờ bằng giọng kể thấm đẫm tình người, vừa hiện thực vừa mang màu sắc cổ tích: một người con “ngờ nghệch” mà trung thành tuyệt đối với lời hứa năm nào. Hình ảnh “đá trổ bông” trở thành ẩn dụ cho niềm tin và tình yêu bất diệt, dù hư ảo nhưng sáng ngời nhân tính.
3. So sánh và đánh giá
Cả Đăng và Khờ đều sống trong cảnh ngộ bị tước mất tình mẫu tử, nhưng cách họ thể hiện nỗi khao khát khác nhau:
Đăng là đứa trẻ thành thị, biết suy nghĩ, ý thức rõ nỗi mất mát, nên khao khát của em mang màu sắc nội tâm, day dứt và đau đớn.
Khờ lại là đứa trẻ “ngờ nghệch” ở núi rừng, khao khát mẹ một cách bản năng, hồn nhiên và bền bỉ, đến mức hóa thành niềm tin ngây thơ nhưng cao quý.
Nếu Đăng làm người đọc xót xa vì sự cô độc và tổn thương tinh thần, thì Khờ khiến ta rưng rưng vì tấm lòng trong sáng, thủy chung vô điều kiện.
Ngòi bút Nguyễn Huy Thiệp sắc sảo, mạnh mẽ, nghiêng về phân tích tâm lý và hiện thực. Còn Nguyễn Ngọc Tư lại nhẹ nhàng, đầy chất thơ và nhân hậu, hướng người đọc tới niềm tin ở sự thiện lương nơi con người nhỏ bé.
4. Kết luận
Dù ở hai hoàn cảnh khác nhau, Đăng và Khờ đều gợi cho người đọc niềm thương cảm sâu sắc. Cả hai đều minh chứng rằng:
“Không có tình mẹ, tâm hồn con người như thiếu mất nửa phần ánh sáng.”
Qua hai câu chuyện, Nguyễn Huy Thiệp và Nguyễn Ngọc Tư đều khẳng định giá trị bất diệt của tình mẫu tử – thứ tình cảm thiêng liêng nuôi dưỡng con người vượt lên cô đơn, giữ lại trong họ phần nhân hậu và trong sáng nhất của đời sống.
Hai đoạn trích trong truyện ngắn Tâm hồn mẹ của Nguyễn Huy Thiệp và truyện ngắn Đá trổ bông của Nguyễn Ngọc Tư đều phản ánh sâu sắc niềm khao khát tình thân trong tâm hồn của hai đứa trẻ – Đăng và Khờ – dù hoàn cảnh và cách thể hiện khác nhau.
Đăng là cậu bé mồ côi mẹ, sống với ông bà ngoại và thiếu vắng sự quan tâm, hiểu biết sâu sắc như tình mẫu tử. Niềm khao khát tình thân ở Đăng thể hiện rất rõ qua mối quan hệ với Thu – người bạn đồng trang lứa nhưng lại mang vai trò như “mẹ” trong mắt cậu. Đăng cảm nhận sự khác biệt lớn giữa mình và bạn bè có đầy đủ cha mẹ, sự cô đơn, tủi thân và thậm chí là ý nghĩ muốn chấm dứt cuộc sống vì không có mẹ. Mối quan hệ với Thu là sự bù đắp tinh thần, thể hiện khát khao có mẹ trong lòng cậu bé. Tình cảm ấy vừa ngây thơ vừa sâu sắc, như một điểm tựa tinh thần để Đăng chống chọi với cô đơn và mất mát.
Trong khi đó, Khờ – nhân vật trong Đá trổ bông – cũng sống trong cảnh mẹ bỏ rơi, bị xã hội và gia đình xa lánh nhưng có một cách thể hiện niềm khao khát tình thân rất đặc biệt. Khờ vẫn tin mẹ sẽ trở lại đón mình, tin vào điều kỳ diệu “đá trổ bông” như lời mẹ dặn, tạo nên một niềm tin ngây thơ và bền bỉ. Niềm khao khát ấy không chỉ là nỗi nhớ mẹ mà còn là sợi dây gắn kết Khờ với thiên nhiên, với núi rừng và với chính bản thân mình. Dù trí khôn của Khờ chỉ như trẻ con, nhưng tình cảm trong sáng, giản dị ấy lại chứa đựng sức mạnh giúp Khờ sống mạnh mẽ, tự lập và có trách nhiệm với cộng đồng.
So sánh hai nhân vật, ta thấy Đăng thể hiện sự yếu đuối, cô đơn rõ nét hơn, luôn khao khát được che chở, được làm con của ai đó, nhất là trong sự hiện diện của Thu. Còn Khờ thì biểu hiện sự mạnh mẽ, bình thản hơn dù vẫn mang trong lòng niềm mong mỏi mẹ trở lại, niềm tin ấy giúp Khờ vượt qua cô đơn và nghịch cảnh. Cả hai đều thể hiện khát khao tình thân nhưng qua cách cảm nhận và biểu hiện khác nhau: Đăng là sự cần được bảo bọc và chở che, Khờ là sự tin tưởng và kiên trì bám víu vào hy vọng.
Qua hai hình ảnh này, Nguyễn Huy Thiệp và Nguyễn Ngọc Tư đều khắc họa thành công niềm khao khát tình thân thiêng liêng – một nhu cầu thiết yếu của con người, đặc biệt là trẻ em – trong những hoàn cảnh éo le, thiếu thốn và đau thương của cuộc sống.
BÀI LÀM
Tình thân luôn là sợi dây thiêng liêng nuôi dưỡng tâm hồn con người, đặc biệt là với những đứa trẻ — những tâm hồn trong sáng, yếu đuối và dễ tổn thương. Trong hai truyện ngắn “Tâm hồn mẹ” của Nguyễn Huy Thiệp và “Đá trổ bông” của Nguyễn Ngọc Tư, hai nhân vật nhỏ — Đăng và Khờ — đều mang trong mình một nỗi khát khao mãnh liệt được yêu thương, được có mẹ, được sống trong hơi ấm của tình thân mà số phận đã nghiệt ngã cướp mất.
1. Hoàn cảnh cô đơn của hai đứa trẻ
Cả Đăng và Khờ đều là những đứa trẻ bất hạnh, thiếu vắng bàn tay và tình yêu của người mẹ.
Đăng mồ côi mẹ từ khi mới hai tuổi, cha đi lấy vợ khác, em sống với ông bà ngoại – những người già cả, nghiêm khắc và đầy nguyên tắc. Căn nhà ấy có tình thương nhưng lại thiếu sự thấu hiểu. Đăng lớn lên trong sự kìm nén, cô đơn, "ở với toàn người lớn", và luôn "cảm thấy tủi thân". Em khao khát một thứ tình cảm khác – ấm áp, dịu dàng, bao dung – thứ chỉ có ở mẹ.
Khờ cũng chịu chung một cảnh mồ côi nhưng bi kịch hơn: bị mẹ bỏ rơi trên núi khi mới chín tuổi, với lời hứa hẹn “đợi đá trổ bông mẹ lên đón”. Câu nói tưởng như dối gạt của người mẹ lại trở thành niềm tin duy nhất, thiêng liêng để Khờ sống tiếp. Hơn hai mươi năm trôi qua, người đàn ông mang trí óc của một đứa trẻ vẫn sống với niềm hy vọng ấy – một đức tin trong sáng đến xót xa.
2. Biểu hiện của niềm khao khát tình thân
Ở Đăng, niềm khao khát ấy hiện lên vừa âm thầm vừa dữ dội.
Cậu bé luôn cảm nhận được “mẹ là hình ảnh tuyệt diệu”, dù chưa thể hình dung ra dáng hình của mẹ. Trong mối quan hệ với Thu, một cô bé cùng tuổi, Đăng như tìm thấy hình bóng của người mẹ trong đôi mắt đen và đôi tai hồng của bạn. Thu trở thành chỗ dựa tinh thần, là "mẹ" trong trò chơi trẻ con mà thực ra ẩn chứa nỗi khao khát sâu thẳm của một tâm hồn cô độc. Khi bị hiểu lầm, khi tủi cực vì bị mắng oan, Đăng đã nghĩ đến cái chết — một phản ứng tuyệt vọng của đứa trẻ thiếu chỗ nương tựa. Tiếng “Mẹ…” bật ra trong cơn mê sảng của Đăng là tiếng kêu bản năng, là khát vọng vô bờ về một vòng tay mẹ không bao giờ còn nữa.
Trái lại, niềm khao khát của Khờ lại mang màu sắc ngây ngô, hồn nhiên mà đau đớn.
Khờ tin rằng mẹ sẽ quay lại khi “đá trổ bông”, dù ai cũng biết điều đó không thể xảy ra. Cả đời Khờ gắn bó với ngọn núi, cần mẫn gánh nước, giúp đỡ mọi người, sống tử tế — như thể giữ lòng mình trong sạch để chờ mẹ về. Khờ không oán giận, không trách móc, chỉ sống bằng một niềm tin đơn sơ: “vậy mấy cục đá hong bị trời đánh thể nào cũng có bông.” Trong cái ngờ nghệch ấy là một tình yêu thương bất diệt – tình mẹ con vượt qua cả lý trí, vượt qua thời gian và hiện thực khắc nghiệt.
3. Nghệ thuật thể hiện
Cả hai nhà văn đều có cách viết riêng để khắc họa nỗi khát khao ấy một cách xúc động.
Nguyễn Huy Thiệp dùng giọng văn lạnh, sắc, phân tích tâm lý tinh tế, giúp người đọc thấy được chiều sâu nội tâm phức tạp của Đăng – một đứa trẻ bị tổn thương sớm, sống trong mặc cảm và cô đơn. Giọng kể xen lẫn giữa khách quan và cảm thương khiến bi kịch của Đăng càng thêm day dứt.
Ngược lại, Nguyễn Ngọc Tư dùng giọng kể nhẹ nhàng, đượm chất Nam Bộ, như một lời thủ thỉ. Tác phẩm của chị nhuốm buồn mà vẫn ấm. Nhân vật Khờ hiện lên như biểu tượng của sự trong sáng, của lòng thủy chung vô điều kiện. Tác giả để cho nỗi đau tan ra trong nắng, trong gió, để lại dư vị thương cảm dịu dàng chứ không bi lụy.
4. So sánh và đánh giá chung
Đăng và Khờ đều là hai linh hồn bé bỏng bị tổn thương vì thiếu tình mẫu tử. Nhưng nếu Đăng là nỗi đau của một tâm hồn bị đè nén giữa lý trí và cảm xúc, thì Khờ là sự chấp nhận hiền lành, vô tư đến thánh thiện.
Đăng đau đớn trong cô độc, còn Khờ lại sống kiên nhẫn trong niềm tin. Một người gào gọi “Mẹ” trong tuyệt vọng, người kia thì chờ đợi mẹ suốt đời mà không hề oán thán. Cả hai, theo cách riêng, đều khiến người đọc thấm thía giá trị thiêng liêng của tình mẫu tử và nỗi trống trải mênh mông khi tình thương ấy bị đánh mất.
5. Kết luận
Qua hai nhân vật Đăng và Khờ, Nguyễn Huy Thiệp và Nguyễn Ngọc Tư đã cùng chạm đến một chủ đề muôn thuở: khát vọng được yêu thương, được sống trong vòng tay mẹ. Hai đứa trẻ – một trí tuệ, một ngờ nghệch – lại có chung một tấm lòng tinh khiết, đầy nhân bản. Họ khiến người đọc nhận ra rằng: dù cuộc sống khắc nghiệt đến đâu, trong sâu thẳm mỗi con người vẫn luôn cháy sáng một niềm tin vào tình thân – thứ ánh sáng không bao giờ tắt trong tâm hồn.
Quảng cáo
Bạn cần hỏi gì?
Câu hỏi hot cùng chủ đề
-
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
96044 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
57556 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
49414 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
44863 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
40133 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
37352 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
37151 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
34834 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
31654 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
30795
