Quảng cáo
4 câu trả lời 1037
SOẠN VĂN: CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG
Tác giả: Nguyễn Dữ
Thể loại: Truyền kỳ – truyện có yếu tố hoang đường, kỳ ảo
Xuất xứ: Trích từ Truyền kỳ mạn lục
I. Tóm tắt truyện
Vũ Nương là người phụ nữ đẹp người, đẹp nết, lấy chồng là Trương Sinh. Chồng đi lính, nàng ở nhà hiếu thảo với mẹ chồng, nuôi dạy con nhỏ. Mẹ chồng mất, nàng lo ma chay chu đáo. Khi chồng về, nghe con nói có “cha Đản” ban đêm, Trương Sinh nghi nàng ngoại tình. Không thể giải thích, nàng uất ức, gieo mình xuống sông tự vẫn. Sau này, nhờ sự giúp đỡ của Linh Phi (vợ vua thủy tề), nàng được cứu. Trương Sinh hối hận nhưng không còn gặp lại vợ.
II. Bố cục (3 phần)
Phần 1 (đầu đến “chẳng có gì là quá cả”)
→ Cuộc sống và phẩm hạnh của Vũ Nương.
Phần 2 (tiếp theo đến “nói với chàng có được không?”)
→ Bi kịch bị nghi oan và cái chết của nàng.
Phần 3 (còn lại)
→ Vũ Nương được minh oan ở thủy cung.
III. Tìm hiểu chi tiết
1. Nhân vật Vũ Nương
Tính cách:
Hiền hậu, nết na, thủy chung.
Yêu thương mẹ chồng, con cái, giữ gìn hạnh phúc gia đình.
Trọng danh dự, chịu oan không oán trách, sẵn sàng hy sinh để giữ phẩm hạnh.
Số phận:
Phụ nữ tốt nhưng không được bảo vệ.
Bị chồng nghi oan, không thể tự minh oan, phải tìm cái chết.
2. Nhân vật Trương Sinh
Gia trưởng, hẹp hòi, thiếu niềm tin, ghen tuông mù quáng.
Không cho vợ cơ hội giải thích → gây nên bi kịch.
Cuối truyện hối hận nhưng đã quá muộn.
3. Bé Đản
Ngây thơ, vô tình là nguyên nhân gây ra hiểu lầm.
Chi tiết "cha Đản" là cái bóng mẹ tạo ra → thể hiện tình thương mẹ dành cho con.
4. Yếu tố kỳ ảo
Vũ Nương sống dưới thủy cung, gặp lại Phan Lang, trở về trong làn khói mờ ảo.
Tăng sức hấp dẫn, thể hiện khát vọng công lý, lẽ phải được sáng tỏ.
IV. Nội dung chính
Lên án xã hội phong kiến bất công với phụ nữ.
Thể hiện sự cảm thông, trân trọng đối với vẻ đẹp và phẩm chất người phụ nữ xưa.
Gửi gắm ước mơ công lý, sự thật được sáng tỏ.
V. Nghệ thuật đặc sắc
Kết hợp yếu tố hiện thực và kỳ ảo.
Nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn, chặt chẽ.
Miêu tả tâm lý nhân vật sâu sắc.
Ngôn ngữ mộc mạc, giản dị.
VI. Câu hỏi luyện tập
Vũ Nương là người như thế nào?
Vì sao Trương Sinh nghi ngờ vợ?
Cái bóng trong câu chuyện có ý nghĩa gì?
Tác phẩm muốn nói lên điều gì?
VII. Ghi nhớ
"Chuyện người con gái Nam Xương" là tiếng nói xót thương cho số phận bất hạnh của người phụ nữ và là lời tố cáo sâu sắc những bất công trong xã hội phong kiến.
Câu 1 (trang 16 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Trình bày cốt truyện và nêu bố cục của tác phẩm.
Trả lời:
- Cốt truyện:
+ Vũ Nương là người con gái thuỳ mị nết na, lấy Trương Sinh (người ít học, có tính đa nghi)
+ Trương Sinh phải đi lính đánh giặc Chiêm; ở nhà, Vũ Nương sinh con, hết lòng chăm
sóc mẹ chồng, khi mẹ chồng mất, lo đám tang chu đáo.
+ Trương Sinh trở về, nghe câu nói của con và nghi ngờ vợ; bị oan nhưng không thể minh oan, Vũ Nương tự tử ở bến Hoàng Giang, nhưng được Linh Phi cứu giúp.
+ Ở nơi cung nước, Vũ Nương gặp Phan Lang (người cùng làng), Phan Lang khuyên nàng trở về.
+ Được Linh Phi giúp, Vũ Nương trở về gặp Trương Sinh, từ giữa dòng nói vọng vào mấy lời để chồng thấu nỗi oan của mình rồi biến mất.
- Bố cục: gồm 3 phần.
+ Phần 1 (từ đầu đến lo liệu như đối với cha mẹ đẻ mình): Giới thiệu về hai nhân vật Vũ Nương - Trương Sinh; gia cảnh nhà Trương Sinh và cuộc sống của Vũ Nương khi chồng đi lính.
+ Phần thứ hai (từ Qua năm sau, giặc ngoan cố đã chịu trói đến nhưng việc trót đã qua rồi): Nỗi oan bị chồng nghi ngờ và hành động tự trầm của Vũ Nương.
+ Phần cuối (từ Cùng làng với nàng đến hết): Cuộc gặp gỡ tình cờ giữa Phan Lang và Vũ Nương trong động của Linh Phi và việc Vũ Nương trở về trên sông gặp Trương Sinh để giải toả nỗi oan khuất.
Câu 2 (trang 16 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Trong phần đầu tác phẩm, Nguyễn Dữ đã làm nổi bật những đặc điểm gì ở nhân vật Vũ Nương và Trương Sinh? Lời người kể chuyện có vai trò như thế nào trong việc khắc họa nhân vật?
Trả lời:
- Các chi tiết:
+ Vũ Nương – Vũ Thị Thiết, người con gái quê ở Nam Xương, tính đã thùy mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp.
- Trương Sinh – người tronng làng, con nhà hào phú, nhưng không có học; có tính đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức.
- Lời người kể chuyện có vai trò rất lớn trong việc khắc họa tính cách, bản chất của nhân vật; thể hiện thái độ của tác giả với nhân vật: yêu mến, trân trọng Vũ Nương; phê phán Trương Sinh.
Câu 3 (trang 16 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Phân tích lời than của nhân vật Vũ Nương trước khi gieo mình xuống sông để làm rõ các khía cạnh:
a. Nỗi đau đớn của nhân vật.
b. Đặc điểm của ngôn ngữ nhân vật trong truyện truyền kì.
Trả lời:
a. Lời than của Vũ Nương cũng là lời nguyền mà nàng nói với thần sông để giãi bày nỗi niềm trước khi tự vẫn: Nàng luôn trong trắng thủy chung, khát khao hạnh phúc gia đình vậy mà cuối cùng phải tìm đến cái chết để rửa oan, nỗi oan chỉ có trời đất, thần linh mới thấu.
b. Lời than ấy cho thấy nét đặc trưng của ngôn ngữ nhân vật trong truyện truyền kì là sử dụng nhiều điển cố, điển tích.
Câu 4 (trang 16 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Cho biết những nguyên nhân gây ra bi kịch của Vũ Nương. Nguyên nhân nào là chủ yếu?
Trả lời:
- Nguyên nhân trực tiếp:
+ Cái bóng trên tường.
+ Lời nói ngây thơ của bé Đản.
+ Tính cách đa nghi, hay ghen của Trương Sinh.
- Nguyên nhân gián tiếp:
+ Cuộc hôn nhân không bình đẳng: Vũ Nương con kẻ khó, Trương Sinh con nhà hào phú, đem trăm lạng vàng để xin cưới.
+ Lễ giáo phong kiến, trọng nam khinh nữ.
+ Chiến tranh phi nghĩa gây nên cảnh biệt li.
→ Tính đa nghi hay ghen của Trương Sinh là nguyên nhân cơ bản gây ra bi kịch của Vũ Nương.
Câu 5 (trang 16 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Trong tác phẩm, nhân vật Phan Lang được khắc họa ở những không gian, thời gian nào? Nhân vật này có vai trò gì trong truyện?
Trả lời:
- Không gian, thời gian thực: chi tiết nói về nơi sinh sống, nghề nghiệp, mối quan hệ giữa Phan Lang với Trương Sinh và Vũ Nương; chiết tiết Phan Lang nhắc tới nhà cửa, gia đình, tổ tiên của Vũ Nương.
- Không gian, thời gian ảo: cuộc sống của Phan Lang ở nơi cung nước.
→ Phan Lang là cầu nối giữa 2 cõi thực và ảo, nhân tố kết nối giúp Vũ Nương giải oan.
Câu 6 (trang 16 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Hình ảnh Vũ Nương hiện về khi Trương Sinh lập đàn giải oan trên bến Hoàng Giang được tác giả miêu tả qua những chi tiết nào? Theo em, đoạn kết có màu sắc kì ảo này có tác dụng gì trong việc thể hiện chủ đề của tác phẩm.
Trả lời:
- Hình ảnh: Vũ Nương ngồi trên chiếc kiệu hoa đứng ở giữa dòng, theo sau có đến năm mươi chiếc xe cờ tán, võng lọng, rực rỡ đầy sông lúc ẩn lúc hiên; nàng vẫn ở giữa dòng mà nói vọng vào,…
- Tác dụng của đoạn kết:
+ Là sáng tạo của Nguyễn Dữ so với truyện dân gian “Vợ chàng Trương”.
+ Làm câu chuyện thêm lung linh, kì ảo, lôi cuốn.
+ Tạo được kết thúc có hậu, Vũ Nương được minh oan, thể hiện khát vọng về công bằng, hạnh phúc.
+ Tuy nhiên vẫn để lại xót xa, tiếc nuối về hạnh phúc không trọn vẹn.
Câu 7 (trang 16 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Nêu chủ đề của tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương và trình bày suy nghĩ của em về chủ đề đó.
Trả lời:
- Chủ đề: Bi kịch tan vỡ hạnh phúc gia đình, phê phán xã hội phong kiến, bày tỏ niềm cảm thương sâu sắc.
- Đây là tư tưởng mang đậm tính nhân văn, tiến bộ.
* Viết kết nối với đọc:
Câu hỏi (trang 16 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Viết đoạn văn (khoảng 7-9 câu) trình bày suy nghĩ của em về chi tiết “cái bóng” trong truyện.
Trả lời:
Chi tiết “cái bóng” trong “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ đã để lại cho người đọc nhiều ấn tượng sâu sắc. Lần đầu tiên cái bóng xuất hiện khi Vũ Nương chỉ bóng mình trên vách tường và nói đó là cha Đản. Cái bóng là đại diện cho tình yêu thương con và nỗi nhớ chồng, thủy chung của Vũ Nương. Lần thứ hai cái bóng xuất hiện gián tiếp qua lời nói của bé Đản: Khiến cho Trương Sinh nghi ngờ vợ mình thất tiết bèn đuổi đánh, mắng nhiếc nàng thậm tệ; nỗi oan khiến cho Vũ Nương phải gieo mình xuống sông tự vẫn. Cái bóng đưa câu chuyện lên đến cao trào, cho ta thấy được bản tính đa nghi, hay ghen của Trương Sinh. Lần thứ ba cái bóng xuất hiện vào một đêm, khi Trương Sinh và con ngồi bên chiếc đèn, bé Đản lại chỉ vào cái bóng và nói đó là cha mình. Cái bóng mở nút cho câu chuyện cho ta thấy được xã hội phong kiến coi trọng nam quyền đầy rẫy bất công đã khiến khiến cho người phụ nữ phải chọn cái chết để giải thoát bản thân. Tuy chỉ là một hình ảnh nhỏ bé nhưng cái bóng đã cho ta thấy rõ bi kịch của người phụ nữ trong xã hội phong kiến, phê phán tính đa nghi, nam quyền qua đó thể hiện niềm cảm thương sâu sắc đối với nhân vật Vũ Nương.
Câu 1 (trang 16 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Trình bày cốt truyện và nêu bố cục của tác phẩm.
Trả lời:
- Cốt truyện:
+ Vũ Nương là người con gái thuỳ mị nết na, lấy Trương Sinh (người ít học, có tính đa nghi)
+ Trương Sinh phải đi lính đánh giặc Chiêm; ở nhà, Vũ Nương sinh con, hết lòng chăm
sóc mẹ chồng, khi mẹ chồng mất, lo đám tang chu đáo.
+ Trương Sinh trở về, nghe câu nói của con và nghi ngờ vợ; bị oan nhưng không thể minh oan, Vũ Nương tự tử ở bến Hoàng Giang, nhưng được Linh Phi cứu giúp.
+ Ở nơi cung nước, Vũ Nương gặp Phan Lang (người cùng làng), Phan Lang khuyên nàng trở về.
+ Được Linh Phi giúp, Vũ Nương trở về gặp Trương Sinh, từ giữa dòng nói vọng vào mấy lời để chồng thấu nỗi oan của mình rồi biến mất.
- Bố cục: gồm 3 phần.
+ Phần 1 (từ đầu đến lo liệu như đối với cha mẹ đẻ mình): Giới thiệu về hai nhân vật Vũ Nương - Trương Sinh; gia cảnh nhà Trương Sinh và cuộc sống của Vũ Nương khi chồng đi lính.
+ Phần thứ hai (từ Qua năm sau, giặc ngoan cố đã chịu trói đến nhưng việc trót đã qua rồi): Nỗi oan bị chồng nghi ngờ và hành động tự trầm của Vũ Nương.
+ Phần cuối (từ Cùng làng với nàng đến hết): Cuộc gặp gỡ tình cờ giữa Phan Lang và Vũ Nương trong động của Linh Phi và việc Vũ Nương trở về trên sông gặp Trương Sinh để giải toả nỗi oan khuất.
Câu 2 (trang 16 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Trong phần đầu tác phẩm, Nguyễn Dữ đã làm nổi bật những đặc điểm gì ở nhân vật Vũ Nương và Trương Sinh? Lời người kể chuyện có vai trò như thế nào trong việc khắc họa nhân vật?
Trả lời:
- Các chi tiết:
+ Vũ Nương – Vũ Thị Thiết, người con gái quê ở Nam Xương, tính đã thùy mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp.
- Trương Sinh – người tronng làng, con nhà hào phú, nhưng không có học; có tính đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức.
- Lời người kể chuyện có vai trò rất lớn trong việc khắc họa tính cách, bản chất của nhân vật; thể hiện thái độ của tác giả với nhân vật: yêu mến, trân trọng Vũ Nương; phê phán Trương Sinh.
Câu 3 (trang 16 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Phân tích lời than của nhân vật Vũ Nương trước khi gieo mình xuống sông để làm rõ các khía cạnh:
a. Nỗi đau đớn của nhân vật.
b. Đặc điểm của ngôn ngữ nhân vật trong truyện truyền kì.
Trả lời:
a. Lời than của Vũ Nương cũng là lời nguyền mà nàng nói với thần sông để giãi bày nỗi niềm trước khi tự vẫn: Nàng luôn trong trắng thủy chung, khát khao hạnh phúc gia đình vậy mà cuối cùng phải tìm đến cái chết để rửa oan, nỗi oan chỉ có trời đất, thần linh mới thấu.
b. Lời than ấy cho thấy nét đặc trưng của ngôn ngữ nhân vật trong truyện truyền kì là sử dụng nhiều điển cố, điển tích.
Câu 4 (trang 16 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Cho biết những nguyên nhân gây ra bi kịch của Vũ Nương. Nguyên nhân nào là chủ yếu?
Trả lời:
- Nguyên nhân trực tiếp:
+ Cái bóng trên tường.
+ Lời nói ngây thơ của bé Đản.
+ Tính cách đa nghi, hay ghen của Trương Sinh.
- Nguyên nhân gián tiếp:
+ Cuộc hôn nhân không bình đẳng: Vũ Nương con kẻ khó, Trương Sinh con nhà hào phú, đem trăm lạng vàng để xin cưới.
+ Lễ giáo phong kiến, trọng nam khinh nữ.
+ Chiến tranh phi nghĩa gây nên cảnh biệt li.
→ Tính đa nghi hay ghen của Trương Sinh là nguyên nhân cơ bản gây ra bi kịch của Vũ Nương.
Câu 5 (trang 16 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Trong tác phẩm, nhân vật Phan Lang được khắc họa ở những không gian, thời gian nào? Nhân vật này có vai trò gì trong truyện?
Trả lời:
- Không gian, thời gian thực: chi tiết nói về nơi sinh sống, nghề nghiệp, mối quan hệ giữa Phan Lang với Trương Sinh và Vũ Nương; chiết tiết Phan Lang nhắc tới nhà cửa, gia đình, tổ tiên của Vũ Nương.
- Không gian, thời gian ảo: cuộc sống của Phan Lang ở nơi cung nước.
→ Phan Lang là cầu nối giữa 2 cõi thực và ảo, nhân tố kết nối giúp Vũ Nương giải oan.
Câu 6 (trang 16 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Hình ảnh Vũ Nương hiện về khi Trương Sinh lập đàn giải oan trên bến Hoàng Giang được tác giả miêu tả qua những chi tiết nào? Theo em, đoạn kết có màu sắc kì ảo này có tác dụng gì trong việc thể hiện chủ đề của tác phẩm.
Trả lời:
- Hình ảnh: Vũ Nương ngồi trên chiếc kiệu hoa đứng ở giữa dòng, theo sau có đến năm mươi chiếc xe cờ tán, võng lọng, rực rỡ đầy sông lúc ẩn lúc hiên; nàng vẫn ở giữa dòng mà nói vọng vào,…
- Tác dụng của đoạn kết:
+ Là sáng tạo của Nguyễn Dữ so với truyện dân gian “Vợ chàng Trương”.
+ Làm câu chuyện thêm lung linh, kì ảo, lôi cuốn.
+ Tạo được kết thúc có hậu, Vũ Nương được minh oan, thể hiện khát vọng về công bằng, hạnh phúc.
+ Tuy nhiên vẫn để lại xót xa, tiếc nuối về hạnh phúc không trọn vẹn.
Câu 7 (trang 16 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Nêu chủ đề của tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương và trình bày suy nghĩ của em về chủ đề đó.
Trả lời:
- Chủ đề: Bi kịch tan vỡ hạnh phúc gia đình, phê phán xã hội phong kiến, bày tỏ niềm cảm thương sâu sắc.
- Đây là tư tưởng mang đậm tính nhân văn, tiến bộ.
* Viết kết nối với đọc:
Câu hỏi (trang 16 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Viết đoạn văn (khoảng 7-9 câu) trình bày suy nghĩ của em về chi tiết “cái bóng” trong truyện.
Trả lời:
Chi tiết “cái bóng” trong “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ đã để lại cho người đọc nhiều ấn tượng sâu sắc. Lần đầu tiên cái bóng xuất hiện khi Vũ Nương chỉ bóng mình trên vách tường và nói đó là cha Đản. Cái bóng là đại diện cho tình yêu thương con và nỗi nhớ chồng, thủy chung của Vũ Nương. Lần thứ hai cái bóng xuất hiện gián tiếp qua lời nói của bé Đản: Khiến cho Trương Sinh nghi ngờ vợ mình thất tiết bèn đuổi đánh, mắng nhiếc nàng thậm tệ; nỗi oan khiến cho Vũ Nương phải gieo mình xuống sông tự vẫn. Cái bóng đưa câu chuyện lên đến cao trào, cho ta thấy được bản tính đa nghi, hay ghen của Trương Sinh. Lần thứ ba cái bóng xuất hiện vào một đêm, khi Trương Sinh và con ngồi bên chiếc đèn, bé Đản lại chỉ vào cái bóng và nói đó là cha mình. Cái bóng mở nút cho câu chuyện cho ta thấy được xã hội phong kiến coi trọng nam quyền đầy rẫy bất công đã khiến khiến cho người phụ nữ phải chọn cái chết để giải thoát bản thân. Tuy chỉ là một hình ảnh nhỏ bé nhưng cái bóng đã cho ta thấy rõ bi kịch của người phụ nữ trong xã hội phong kiến, phê phán tính đa nghi, nam quyền qua đó thể hiện niềm cảm thương sâu sắc đối với nhân vật Vũ Nương.
Bài văn: Đàn ong hát đồng ca
Trong thế giới tự nhiên rộng lớn, mỗi loài vật đều có một vẻ đẹp và một cách sống riêng. Có loài khiến con người yêu thích bởi bộ lông mềm mại, có loài gây ấn tượng bởi tiếng hót trong trẻo, lại có những loài nhỏ bé nhưng vô cùng chăm chỉ và có ích. Đàn ong là một trong những loài vật như thế. Khi nhìn những chú ong bay từ bông hoa này sang bông hoa khác, cùng nhau làm việc và tạo nên những âm thanh rì rào, em có cảm giác như cả đàn ong đang cùng nhau cất lên một bản nhạc của thiên nhiên – một “bài đồng ca” vừa vui tươi vừa đầy sức sống.
Ong là một loài vật rất quen thuộc với con người. Chúng thường sống thành từng đàn trong những chiếc tổ được xây dựng rất khéo léo. Mỗi ngày, những chú ong thợ lại cần mẫn bay đi tìm mật và phấn hoa. Từ sáng sớm, khi những bông hoa còn đọng những giọt sương trong veo, ong đã bắt đầu công việc của mình. Chúng bay giữa những cánh đồng hoa, đậu lên từng bông hoa rồi lấy mật và phấn mang về tổ. Công việc ấy tưởng như đơn giản nhưng đòi hỏi sự chăm chỉ và bền bỉ.
Điều khiến em ấn tượng nhất ở đàn ong chính là tinh thần làm việc tập thể. Một chú ong có thể rất nhỏ bé, nhưng cả đàn ong lại tạo nên một sức mạnh đáng kinh ngạc. Mỗi con đều có nhiệm vụ riêng và cố gắng hoàn thành công việc của mình. Ong không làm việc một cách riêng lẻ mà luôn phối hợp với nhau. Con tìm hoa, con chăm sóc ong non, con bảo vệ tổ. Nhờ sự đoàn kết ấy, cả đàn có thể cùng tồn tại và phát triển.
Khi hàng trăm, hàng nghìn chú ong cùng bay, âm thanh phát ra từ đôi cánh của chúng tạo thành tiếng vo ve liên tục. Nếu lắng nghe thật kĩ, em có thể tưởng tượng đó giống như một bản nhạc đặc biệt của thiên nhiên. Không có nhạc cụ, không có người chỉ huy, nhưng đàn ong vẫn tạo nên một “bài đồng ca” của riêng mình. Tiếng vo ve ấy lúc gần lúc xa, lúc mạnh mẽ, lúc nhẹ nhàng, hòa cùng tiếng gió và tiếng chim, làm cho khu vườn trở nên sống động hơn.
Đàn ong không chỉ mang lại vẻ đẹp cho thiên nhiên mà còn có vai trò rất quan trọng đối với cuộc sống con người. Khi ong bay từ hoa này sang hoa khác, chúng góp phần giúp cây cối thụ phấn. Nhờ đó, nhiều loài cây có thể ra hoa, kết quả và tiếp tục sinh trưởng. Ong còn tạo ra mật ong – một sản phẩm quen thuộc và có nhiều giá trị. Vì vậy, dù chỉ là những sinh vật nhỏ bé, ong lại đóng góp rất nhiều cho thiên nhiên và con người.
Quan sát cuộc sống của đàn ong, em còn học được rất nhiều điều. Trước hết, đó là bài học về sự chăm chỉ. Những chú ong không ngừng làm việc, từ ngày này sang ngày khác. Chúng không ngại đường xa hay công việc khó khăn. Mỗi chuyến bay tìm mật của ong giống như một lần cố gắng để đem lại điều tốt đẹp cho cả đàn. Con người cũng vậy, muốn đạt được kết quả tốt thì cần phải chăm chỉ và kiên trì.
Bên cạnh đó, đàn ong còn dạy em bài học về tinh thần đoàn kết. Một cá thể nhỏ bé có thể không làm được nhiều việc, nhưng khi nhiều cá thể cùng chung sức, họ có thể tạo ra những thành quả lớn lao. Trong học tập cũng như trong cuộc sống, nếu mọi người biết giúp đỡ và hợp tác với nhau thì công việc sẽ trở nên dễ dàng hơn. Một tập thể đoàn kết luôn có thể vượt qua nhiều khó khăn.
Em cũng nhận ra rằng chúng ta cần biết yêu quý và bảo vệ các loài vật. Đôi khi con người chỉ chú ý đến những con vật to lớn mà quên mất rằng những sinh vật nhỏ bé cũng có vai trò quan trọng trong tự nhiên. Nếu đàn ong bị suy giảm, nhiều loài thực vật cũng có thể bị ảnh hưởng. Vì vậy, bảo vệ ong cũng là góp phần bảo vệ sự cân bằng của môi trường.
Hình ảnh đàn ong bay giữa những bông hoa khiến em cảm nhận rõ hơn vẻ đẹp của cuộc sống. Mỗi chú ong giống như một người nghệ sĩ nhỏ bé đang góp một âm thanh vào bản nhạc chung. Không chú ong nào hát một mình, mà tất cả cùng tạo nên một “bài đồng ca” rộn ràng. Bản đồng ca ấy không chỉ có tiếng vo ve mà còn chứa đựng sự chăm chỉ, đoàn kết và sức sống của cả đàn.
Qua hình ảnh đàn ong hát đồng ca, em hiểu rằng trong cuộc sống, mỗi người tuy có thể nhỏ bé nhưng đều có giá trị riêng. Điều quan trọng là chúng ta biết cố gắng, biết sống có trách nhiệm và biết hợp tác với những người xung quanh. Nếu mỗi người đều góp một phần nhỏ bé của mình, chúng ta có thể tạo nên những điều lớn lao.
Đối với em, đàn ong từ lâu không còn chỉ là những con vật nhỏ bé bay quanh những bông hoa. Chúng giống như những người thợ cần mẫn của thiên nhiên, ngày ngày làm việc và tạo nên những âm thanh vui tươi cho cuộc sống. “Bài đồng ca” của đàn ong giúp em thêm yêu thiên nhiên, trân trọng những sinh vật quanh mình và hiểu hơn giá trị của sự chăm chỉ, đoàn kết. Có lẽ, đó chính là giai điệu đẹp nhất mà những chú ong nhỏ bé đã gửi tặng cho con người.
Quảng cáo
Bạn cần hỏi gì?
Câu hỏi hot cùng chủ đề
-
254059
-
81088
-
Hỏi từ APP VIETJACK54707
-
48677
-
45366
