Quảng cáo
3 câu trả lời 614
Bài thơ "Quê hương" của tác giả Tế Hanh là một trong những tác phẩm nổi tiếng trong nền văn học Việt Nam, được viết vào năm 1939. Bài thơ này thể hiện tình cảm sâu sắc của tác giả đối với quê hương, đặc biệt là vẻ đẹp của biển cả và cuộc sống bình dị của người dân quê.
Nhận xét về bức tranh biển trong bài thơ:
Trong bài thơ "Quê hương", Tế Hanh đã khắc họa một bức tranh biển rất rõ nét, với những hình ảnh đặc trưng của một làng chài ven biển. Biển trong bài thơ không chỉ là một cảnh vật thiên nhiên, mà còn là một phần không thể thiếu trong cuộc sống của con người, gắn liền với công việc mưu sinh và những ký ức ngọt ngào của tác giả.
1. Cảnh biển bao la, hùng vĩ: Bức tranh biển trong bài thơ hiện lên rộng lớn, bao la và thanh bình. Biển không chỉ là cảnh vật thiên nhiên mà còn là hình ảnh của quê hương với những ký ức ngọt ngào, gắn liền với tuổi thơ và những tháng ngày giản dị nhưng đầy ấm áp. Tác giả viết:
"Quê hương là chùm khế ngọt, Cho con trèo hái mỗi ngày."
Mặc dù đây là hình ảnh của một làng quê ven biển, nhưng biển trong thơ Tế Hanh vẫn được gợi lên như một phần quan trọng trong ký ức của mỗi con người, là nơi lưu giữ những tình cảm sâu nặng.
2. Biển như một người bạn gắn bó với con người: Trong bài thơ, biển không chỉ là một khung cảnh tự nhiên mà còn là một phần của cuộc sống, gắn bó với những con người lao động vất vả, chăm chỉ. Biển là người bạn đồng hành, là nơi mỗi ngày người dân làng chài ra khơi đánh cá. Điều này thể hiện qua những câu thơ miêu tả cuộc sống bình dị và chân thực của người dân quê:
"Biển rộng mênh mông, trời cao vời vợi, Vào những buổi chiều tà, sóng vỗ về bờ."
Biển vừa mang vẻ đẹp hùng vĩ, vừa là nguồn sống, là nơi nối kết quá khứ với hiện tại, nối kết ký ức tuổi thơ của tác giả với hiện thực cuộc sống.
3. Biển với màu sắc tươi sáng, trong lành: Tế Hanh dùng những từ ngữ nhẹ nhàng, dễ hiểu để miêu tả vẻ đẹp của biển, thể hiện tình yêu và sự trân trọng đối với quê hương. Biển trong bài thơ hiện lên rất tươi sáng, đầy sức sống. Hình ảnh biển bao la, trời cao, sóng vỗ vào bờ gợi lên cảm giác thanh thản, bình yên.
4. Biển – biểu tượng của tình yêu quê hương: Biển trong bài thơ không chỉ là cảnh vật thiên nhiên mà còn mang một ý nghĩa sâu sắc về tình yêu quê hương, về sự gắn bó, về những kỷ niệm khó quên của tuổi thơ. Tế Hanh dùng biển như một biểu tượng của tình yêu đất mẹ, thể hiện sự tri ân, trân trọng đối với những gì quê hương đã mang lại cho mình.
Bức tranh biển trong bài thơ "Quê hương" của Tế Hanh là một bức tranh rất đẹp, vừa hùng vĩ, vừa gần gũi, giản dị. Biển trong thơ của Tế Hanh không chỉ là một cảnh vật thiên nhiên mà còn là hình ảnh của quê hương, là nơi ghi dấu những ký ức đẹp đẽ của tuổi thơ, là nơi chứa đựng tình yêu và lòng biết ơn của tác giả đối với quê hương mình.
Tế Hanh là người con của xứ sở núi Ấn sông Trà. Đề tài quê hương trở đi trở lại trong thơ ông từ lúc tóc còn xanh cho tới khi đầu bạc! Ông viết về quê hương bằng cảm xúc đậm đà, chân chất và dành cho mảnh đất chôn nhau cắt rốn của mình một tình yêu thiết tha, sâu nặng.
Bài thơ Quê hương sáng tác năm 1938, khi tác giả mới tròn mười bảy tuổi, đang theo học trung học ở Huế, là nỗi nhớ, là tình yêu nồng nàn đối với quê hương. Mở đầu bài thơ, bằng lời kể mộc mạc, tự nhiên, Tế Hanh giới thiệu: Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới:
Nước bao vấy, cách biển nửa ngày sông. Quê hương nhà thờ là một cù lao nổi giữa bốn bề sông nước. Dân làng sống bằng nghề chài lưới, cuộc đời gắn chặt với biển cả mênh mông. Làng nghèo giống như bao làng biển khác nhưng khi,đi xa, nhà thơ thương nhớ đến quặn lòng. Nhớ nhất là khung cảnh: Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá. Đoàn thuyền nối đuôi nhau rời bến lúc bình minh. Cảnh sắc thiên nhiên tuyệt đẹp. Bầu trời cao lồng lộng đồng điệu với lòng người phơi phới. Hình ảnh các chàng trai xứ biển vạm vỡ và con thuyền băng băng lướt sóng đã in đậm trong tâm tưởng nhà thơ: Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã
Phăng mái chèo, mạnh mẽ vượt trường giang.
Hình ảnh so sánh đẹp đẽ và một loạt tính từ, động từ chọn lọc: hăng, phăng, mạnh mẽ, vượt… đã diễn tả đầy ấn tượng khí thế của những con thuyền nối nhau ra khơi, toát lên sức sống khỏe khoắn và một vẻ đẹp hào hùng.
Trong hai câu tiếp theo, tác giả miêu tả cánh buồm bằng sự so sánh độc đáo, bất ngờ và lãng mạn: Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió… Hình ảnh cánh buồm giản dị, quen thuộc hằng ngày bỗng trở nên lớn lao, thiêng liêng và thơ mộng. Nhà thơ cảm thấy đó chính là biểu tượng của hồn làng nên dồn hết tình yêu thương vào ngòi bút để vừa vẽ ra cái hình, vừa thể hiện cái hồn của cánh buồm. So sánh không đơn thuần là làm cho sự vật được miêu tả cụ thể hơn mà đem lại cho nó một vẻ đẹp bay bổng chứa đựng ý nghĩa lớn lao. Liệu có hình ảnh nào diễn tả chính xác cái hồn của làng chài bằng hình ảnh cánh buồm trắng căng phồng ngọn gió biển khơi? Đem so sánh cánh buồm là vật hữu hình với hồn làng một khái niệm vô hình thì quả là sáng tạo nghệ thuật độc đáo của nhà thơ. Con thuyền ra khơi mang theo những nỗi lo toan cùng niềm tin yêu, hi vọng của bao người. Nhiệt tình và sức sống của con người truyền sang cả vật vô tri khiến cho con thuyền dường như cũng có tâm hồn riêng, sức sống riêng. Nhịp thơ khỏe khoắn, tươi vui thể hiện khí thế sôi nổi và niềm khao khát hạnh phúc ấm no của người dân làng biển. Sáu câu thơ miêu tả đoàn thuyền ra khơi đánh cá vừa là bức tranh phong cảnh thiên nhiên tươi sáng, vừa là bức tranh lao động đầy hứng khởi. Nếu cảnh đoàn thuyền ra khơi được nhà thơ miêu tả bằng bút pháp lãng mạn bay bổng thì cảnh đoàn thuyền đánh cá về bến được tả thực đến từng chi tiết: Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ
Khắp dân làng tấp nập đón ghe về.
Nhờ ơn trời! biển lặng cá đầy ghe
Những con cá tươi ngon thân bạc trắng. Dân làng vui mừng đón đoàn thuyền đánh cá trở về trong không khí ồn ào, tấp nập. Những chiếc ghe đầy ắp những con cá tươi ngon thân bạc trắng trông thật thích mắt. Dân làng chân thành tạ ơn trời đất đã sóng yên biển lặng để đoàn ngư phủ được an toàn trở về với làng xóm thân yêu. Khi những người thân ra khơi đánh cá, người ở nhà đợi chờ trong phấp phỏng, lo âu. Nay những con thuyền cập bến bình yên với đầy khoang cá bạc, hỏi còn niềm vui nào lớn lao hơn thế bởi đó chính là cuộc sống ấm no, hạnh phúc của dân làng. Biển cả đẹp đẽ, giàu có và hào phóng nhưng cũng thật khó lường bởi lúc thì trời yên biển lặng, lúc thì bão tố dữ dội. Giữa đại dương mênh mông, làm sao tránh được hiểm nguy, bất trắc? Chỉ có những người một đời gắn bó, sống chết với biển mới thấu hiểu điều này. Cuộc sống của dân chài ngàn đời nay phụ thuộc vào thiên nhiên. Họ vất vả, cực nhọc trăm bề để kiếm miếng cơm manh áo. Vì vậy, giây phút đón người thân sau chuyến đi biển an toàn trở về bao giờ cũng tràn ngập niềm vui. Giữa khung cảnh ấy nổi bật lên hình ảnh rắn rỏi, cường tráng của những chàng ngư phủ quanh năm vật lộn với sóng gió đại dương. Dấu ấn của biển cả đã in đậm trên thân hình vả trong tâm hồn họ: Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng,
Cả thân hình nồng thở vị xa xăm. Những con thuyền về bến sau chuyến ra khơi được nhà thơ ví như con người nghỉ ngơi sau một ngày lao động vất vả: Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm, Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ. Bao hiểm nguy giờ đã lùi xa, nhường chỗ cho sự thanh thản, bình yên. Nghệ thuật nhân hóa đã đem đến cho con thuyền vô tri một đời sống và một tâm hồn tinh tế.
Nhà thơ đã phát hiện ra chất thơ trong đời sống vất vả, cực nhọc của dân quê, đó là điều đáng quý. Cũng vì vậy mà hình ảnh quê hương trong bài thơ tươi sáng, mang hơi thở nồng ấm của cuộc đời cần lao.
Hình ảnh quê hương đẹp đẽ với những con người lao động cần cù đã khắc sâu trong kí ức, hỏi làm sao khi xa cách, nhà thơ không thương nhớ đến quặn lòng? Nếu không có tấm lòng gắn bó chân thành, máu thịt với con người cùng cuộc sống lao động ở làng chài quê hương thì thi sĩ không thể sáng tác ra những câu thơ xuất thần như vậy. Mỗi lần nhớ về quê hương, cảnh đẹp của biển cả như hiển hiện rõ ràng trong tâm trí nhà thơ: Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ
Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi,
Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi,
Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá! Ở bốn câu thơ kết, nhà thơ trực tiếp bộc bạch nỗi nhớ quê hương khôn nguôi của mình. Nhớ Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi; Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi và nhớ cả cái mùi nồng mặn rất đặc trưng của gió biển cùng tất cả những gì thân thuộc của quê hương. Phải chăng nỗi nhớ da diết ấy chính là sợi dây kết chặt nhà thơ với quê hương suốt cả cuộc đời! Bài thơ Quê hương mộc mạc, tự nhiên nhưng rất sâu sắc và thấm thía bởi nó được viết lên từ cảm xúc chân thành. Sức hấp dẫn của nó trước hết là ở những hình ảnh tiêu biểu, chọn lọc và ngôn ngữ tự nhiên, trong sáng. Những biện pháp nghệ thuật so sánh, ví von, nhân hóa kết hợp hài hòa khiến cho bài thơ giống như một bức tranh phong cảnh tuyệt vời được vẽ nên từ tình yêu tha thiết mà Tế Hanh dành trọn cho quê hương. Có thể coi bài thơ này như một cung đàn dịu ngọt của những tấm lòng gắn bó sâu nặng với quê hương xứ sở bởi đây là mảnh tâm hồn trong trẻo nhất, đằm thắm nhất của Tế Hanh dành cho mảnh đất chôn nhau cắt rốn.
Nhận xét về bức tranh biển trong bài thơ "Quê hương" của Tế Hanh:
Tế Hanh đã vẽ nên một bức tranh biển sinh động, đầy màu sắc về làng chài với cuộc sống lao động nhộn nhịp của người dân miền biển. Qua đó, tác giả không chỉ thể hiện vẻ đẹp thiên nhiên mà còn khắc họa tình yêu sâu sắc với quê hương.
Vẻ đẹp hùng tráng của biển cả:
Bức tranh biển trong bài thơ hiện lên mạnh mẽ và tràn đầy sức sống, với hình ảnh con thuyền ra khơi "mạnh mẽ vượt trường giang" và "cánh buồm giương to như mảnh hồn làng." Tế Hanh đã so sánh cánh buồm với “mảnh hồn làng,” gợi cảm giác biển cả không chỉ là nơi mưu sinh mà còn là biểu tượng tâm hồn, niềm tự hào của làng chài.
Biển quê hương không chỉ là nguồn sống mà còn là nơi chứa đựng hy vọng, sự kiên cường của người dân chài khi đối mặt với sóng gió.
Cuộc sống lao động nhộn nhịp, vui tươi:
Tế Hanh khéo léo tái hiện cảnh dân làng chài "kéo lưới kịp trời sáng." Hình ảnh người dân hòa mình vào công việc tạo nên một bức tranh lao động tập thể đầy hăng say và ấm áp.
Dưới ngòi bút của Tế Hanh, biển cả trở thành nơi nuôi dưỡng sức sống và tinh thần lao động của người dân làng chài. Họ không chỉ lao động vì mưu sinh mà còn vì tình yêu với quê hương biển cả, nơi họ gắn bó cả đời.
Tình yêu quê hương sâu sắc của tác giả:
Tế Hanh dùng những từ ngữ giàu cảm xúc như “dân chài lưới,” “làn da ngăm rám nắng” để diễn tả nét chân chất, khỏe mạnh của người dân miền biển. Điều này cho thấy niềm tự hào và yêu thương chân thành của ông với quê hương, nơi có những con người cần cù, chất phác.
Cảnh tượng người dân hăng say lao động giữa biển khơi gợi lên một niềm thương nhớ quê hương sâu sắc trong tâm hồn tác giả. Dù xa quê, ông vẫn nhớ về nơi mình sinh ra, nhớ đến từng chi tiết của làng biển quen thuộc.
Bằng những hình ảnh đẹp và cảm xúc chân thật, Tế Hanh đã khắc họa thành công bức tranh biển với sức sống mãnh liệt và sự gắn bó thân thương. Qua bài thơ, người đọc cảm nhận được vẻ đẹp của biển quê hương cùng tình yêu quê tha thiết của tác giả
Quảng cáo
Bạn cần hỏi gì?
Câu hỏi hot cùng chủ đề
-
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
75225 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
61729 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
55082 -
53184
-
Đã trả lời bởi chuyên gia
40696 -
40329
-
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
38363 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
34697
