NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ nguyễn tuân
=> viết bài , phân tích hình ảnh từng phần (không lấy trên mạng).
Quảng cáo
1 câu trả lời 362
I. Giới thiệu chung
1. Hoàn cảnh sáng tác:
- Nguyễn Tuân là một nhà văn lớn, một gương mặt xuất sắc của nền văn xuôi Việt Nam hiện đại, là người có nhiều đóng góp cho sự phát triển của văn học dân tộc trên hai lĩnh vượt: thể loại và ngôn ngữ. Là một nghệ sĩ suốt đời đi tìm kiếm cái đẹp, có phong cách tài hoa uyên bác
- “Người lái đò sông Đà” – 1960 là bài tùy bút tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân, là một đỉnh cao của văn xuôi kháng chiến chống Mĩ, được viết sau những chuyến đi thực tế hào hứng đến miền Tây Bắc rộng lớn, xa xôi của Tổ quốc. Vẻ đẹp của cảnh trí thiên nhiên và tâm hồn con người nơi đây đã khơi gợi nguồn cảm hứng dào dạt cho tác giả
- Tác phẩm đã thể hiện được những cảm nhận độc đáo của nhà văn về vẻ đẹp của dòng sông Đà và người lái đò Lai Châu. Qua đó, ta thấy được tình yêu quê hương xứ sở đậm đà của Nguyễn Tuân.
2. Thể loại: tuỳ bút ( không có cốt truyện, không hư cấu,viết tự do phóng khoáng, thể hiện rõ cái tôi của người nghệ sỹ)
II. Đọc – hiểu
1. Hình tượng con sông Đà
1.1. Lai lịch:
- Sông Đà bắt nguồn từ huyện Cảnh Đông, tỉnh Vân Nam – Trung Quốc, nhập quốc tịch vào Việt Nam ->Sông Đà trở thành nhịp cầu hữu nghị gắn liền hai nước Trung- Việt
- Sông Đà vốn là vật vô tri vô giác nhưng dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân nó trở thành thực thể sống có linh hồn, có tâm trạng
1.2. Đặc điểm: Vừa hung bạo dữ dằn, vừa thơ mộng trữ tình
a. Sông Đà hung bạo, dữ dằn/ hùng vĩ, dữ dội
* Sông Đà qua vách đá thành: Tác giả đã sử dụng hàng loạt các chi tiết nghệ thuật có chọn lọc để làm nổi bật được về độ cao, độ hẹp, độ sâu của những vách đá:
- “Đá bờ sông dựng vách thành”-> liên tưởng đặc sắc để làm nổi bật được về độ cao vút dựng đứng của những vách đá. Cao đến mức “ Đúng ngọ mới có mặt trời”-> Quãng sông ở nơi đó, quanh năm âm u tối tăm, lạnh và đầy nguy hiểm
- “ vách đá thành chẹt lòng sông Đà như một cái yết hầu”; “ con nai con hổ đã có lần vọt từ bờ này sang bờ kia” -> So sánh, liên tưởng thú vị -> Gợi sự nhỏ hẹp của lòng sông, nơi ấy lưu tốc dòng chảy lớn.
- Không dừng lại ở đó, tác giả còn truyền cho người đọc cảm giác đầy ớn lạnh, sợ hãi đến rợn ngợp khi qua quãng đó. Đó là “Cảm giác của 1 con người đứng ở hè 1 cái ngõ mà ngóng vọng lên 1 khung của sổ nào trên cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện”. Câu văn dài cùng động từ “ngóng vọng” và những cụm từ không xác định “khung cửa sổ nào”, “cái tầng nhà thứ mấy nào” đã diễn tả chính xác độ cao chất ngất của những vách thành đá
* Sông Đà qua mặt ghềnh Hát Loóng:
Sông Đà qua mặt ghềnh Hát Loóng được miêu tả tỉ mỉ: “ hàng ngàn cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt”à Câu văn dài được ngắt thành nhiều vế, kết hợp với phép điệp liên hoàn, nhân hoá, từ láy “cuồn cuộn, gùn ghè” với so sánh Sông Đà như con người quanh năm đi đòi nợ xuýt
-> khẳng định sự hung bạo, dữ dằn, đầy nguy hiểm của Sông Đà. Sông Đà như đang huy động tổng lực tất cả sức mạnh của nước, đá, gió để uy hiếp tính mạng con người. Người đọc có cảm giác đây là một vương quốc ngự trị của thiên nhiên. Ở đó, nước đá gió liên kết phối hợp với nhau chặt chẽ nhằm truy kích, rượt đuổi, cướp đi mạng sống của con người. Sông Đà như một con thuỷ quái khổng lồ với tâm địa độc ác đang ngày đêm gầm gừ, lăm le đe doạ và quanh năm đòi nợ con người một cách vô lý.
* Sông Đà qua những cái hút nước ở quãng Tà Mường Vát
- Để đặc tả độ sâu, độ xoáy đầy nguy hiểm của những cái hút nuớc, Nguyễn Tuân đã đưa ra hàng loạt hình ảnh so sánh liên tưởng độc đáo, kết hợp với nhiều động từ mạnh:
+ “Những cái hút nước giống như cái giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu”
+ “Nước ở đây thở và kêu như cửa cống cái bị sặc”
+ “Nước ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào”
àSông Đà như con người mang tâm trạng bất mãn, bực bội, giận dữ
- Lại thêm một loạt hình ảnh liên tưởng, từ chuyện chèo thuyền qua những cái hút nước phải chèo nhanh và tay lái vững như ô tô sang số ấn ga để vút sang một quãng đường mượn cạp ra ngoài bờ vực. Để làm nổi bật sự nguy hiểm của Sông Đà, Nguyễn Tuân tái hiện lại những hình ảnh “nhiều bè gỗ rừng đi nghênh ngang vô ý, là những cái giếng hút nước ấy nó lôi tuột xuống”
à Tác giả sử dụng nhiều động từ mạnh gợi quá trình vật lộn chìm nổi của những bè gỗ, những con thuyền trên dòng nước SĐ -> nhấn mạnh sự hung bạo dữ dằn.
* Sông Đà qua thác dưới:
- Mặc dù còn ở rất xa mới đến cái thác dưới nhưng “ đã thấy tiếng nước réo gần mãi lại réo to mãi lên”
-> miêu tả từ xa đến gần với những cung bậc khác nhau thông qua thủ pháp trùng điệp tác giả đã miêu tả được trường độ liên tiếp không dứt và cường độ tăng tiến không ngừng của những con thác.
- Thác nước Sông Đà được nhân hoá có tính cách, tư tưởng với nhiều sắc thái cảm xúc “Tiếng nước thác nghe như là oán trách gì rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo. Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu, giữa tre nứa nổ lửa” à nhân hoá sông Đà như một con thuỷ quái nham hiểm, hung hãn, mang tâm lý hằn học ngày đêm điên cuồng, gầm gừ đe doạ tính mạng con người
àNguyễn Tuân đã dựng lên bức tranh thiên nhiên dữ dội đến tột cùng, ví như bắt gặp một trận động đất thời tiền sử khiến người đọc cảm thấy sợ hãi trước sự dữ dội, man rợ của Đà giang.
* Sông Đà khi qua Thạch trận: Ở đây, tác giả đã sử dụng nhiều thủ pháp nghệ thuật cùng với kiến thức của nhiều mảng ngành nghề khác nhau để giúp người đọc hình dung được cuộc vượt thác của người lái đò như một trận chiến đấu thực sự đầy gian lao trên một quãng thủy chiến ở mặt trận Sông Đà
- Nguyễn Tuân đã đem đến cho người đọc 1 cái nhìn toàn cảnh về thạch trận sông Đà. “đá ở đây từ ngàn năm đã mai phục hết trong lòng sông. Nó đứng, nó nằm, nó ngồi tùy theo sở thích” à Bút pháp liệt kê, nhân hóa, ngôn từ nhà binh à gợi thế gập ghềnh hiểm trở, tầng tầng lớp lớp đá nối tiếp đá
- Nguyễn Tuân còn nhân hoá đá như những tên lính hiếu chiến có diện mạo, phong thái, cử chỉ như con người:
+ Diện mạo: “Mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó” àtừ láy-> Diện mạo của một kẻ lưu manh, côn đồ, hung dữ.
+ Phong thái, cử chỉ:
> Có hòn thì oai phong lẫm liệt tự tin vào sức mạnh của mình
> Hòn trông nghiêng thì y như la hất hàm hỏi cái thuyền có giỏi thì tiến vào
> Một hòn khác thì lùi lại một chút và thách thức
à Miêu tả tỉ mỉ, nhân hoá à mỗi hòn đá có một phong thái cử chỉ khác nhưng tất cả đều toát lên tính hiếu chiến, hung bạo, dữ tợn
+ Nhiệm vụ: Sông Đà giao từng nhiệm vụ khác cho mỗi hòn đá với binh pháp tinh vi xảo quyệt
+ Thạch trận chia làm 3 tuyến, 3 trùng vây
@ Thạch trận được chia làm 3 tuyến:
~ hàng tiền vệ có những hòn đá canh cửa giữ vai trò dụ cái thuyền đi vào.
~ Tuyến 2 và 3 có nhiệm vụ đánh tan chiếc thuyền tiêu diệt tất cả thuyền trưởng, thủy thủ đi trên đó.
@ Thạch trận chia làm 3 trùng vi: ở mỗi trùng vi ấy, sông Đà bố trí rất nhiều của tử. Cửa tử lại sắp xếp đầy bất ngờ
~ Trùng vi 1: sông Đà mở ra 5 của trận: 4 cửa tử, 1 cửa sinh, cửa sinh nằm lập lờ phía tả ngạn bờ sông
~ Sang trùng vi 2: tăng thêm nhiều cửa tử, cửa sinh lại bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn
~ Đến trùng vi 3: cửa sinh nằm ngay giữa tuyến đá hậu vệ, bên phải bên trái đều là luồng chết
à Sông Đà hiện lên như 1 trận đồ bát quái dàn binh bố trận đầy nham hiểm. Binh pháp của thần sông thần đá đầy tinh vi, bất ngờ thâm độc. Nó như 1 kẻ thù có tâm địa độc ác và luôn tìm cách để giăng bẫy nhằm cướp đi sự sống con người
- Sự chi viện của sóng nước: không chỉ có đá, thạch trận Sông Đà còn đáng sợ bởi sự phối hợp, chi viện của sóng nước.
Nước thác có nhiệm vụ reo hò làm thanh viện cho đá uy hiếp tinh thần đối phương. Cũng có lúc sóng nước tham chiến dữ dỗi và quyết liệt như một đội quân liều mạng, tinh nhuệ, hiếu chiến trên chiến trường Đà giang à tất cả đều làm nổi bật tính chất hung bạo, dữ dằn của Đà giang
=> Ở đây để làm nổi bật tính chất hung bạo, hiểm ác của Đà giang, Nguyễn Tuân đã:
+ Sử dụng hàng loạt các thuật ngữ trong lĩnh vực quân sự, thể thao như hàng tiền vệ, tuyến giữa, tuyến ba, mai phục, đánh giáp lá cà….tạo ấn tượng về một cuộc chiến đấu thực sự với những tình huống đầy căng thẳng, kịch tính
+ Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng nhiều hình ảnh sáng tạo trùng điệp, độc đáo đem đến cho người đọc những khoái cảm thẩm mĩ bất ngờ, thú vị
+ Câu cú linh hoạt, giàu nhạc tính, giàu chất tạo hình với mật độ động từ, tính từ mạnh dày đặc, tập trung thể hiện được sự dữ dằn, hiếu chiến của con sông.
* Đánh giá
- Nghệ thuật:
+ Sử dụng hàng loạt thuật ngữ trong lĩnh vực thể thao, quân sự “mai phục đánh giáp lá cà, tuyến giữa, tuyến 2, tuyến 3” tạo ấn tượng về cuộc chiến đấu thực sự với những tình huống căng thẳng, kịch tính.
+ nhiều hình ảnh trùng điệp, sáng tạo độc đáo đem đến cho người đọc những khoái cảm thẩm mĩ bất ngờ thú vị.
+ Câu văn linh hoạt giàu nhạc tính, giàu chất tạo hình sử dụng tính từ, động từ, từ láy dày đặc
+ vốn kiến thức phong phú, am hiểu sâu sắc tri thức các lĩnh vực khác của nghệ thuật: lịch sử, âm nhạc, kiến thức quân sự, thể thao…
- Nội dung: Sông Đà hiện lên thật hùng vĩ, hung bạo dữ dằn, được ví như kẻ thù số 1 của người Tây Bắc
* Chú ý: Chất vàng mười mà Nguyễn Tuân tìm thấy của thiên nhiên Tây Bắc ở khúc thựơng nguồn Sông Đà là tiềm năng thuỷ điện to lớn phục vụ cho công cuộc xây dựng CNXH. Dòng sông đã đem đến cuộc sống ánh sáng văn minh cho con người, phục vụ cho nhu cầu con người: cuộc sống sản xuất. sự kì vĩ của thiên nhiên Tây Bắc đã thắp lên ngọn lửa tình yêu đất nước, giục giã con người đến với Tây Bắc yêu thương.
b. Sông Đà không chỉ hung bạo, dữ dằm mà còn thơ mộng, trữ tình (khúc hạ nguồn). Ở đây tác giả đã sử dụng nhiều điểm nhìn nghệ thuật để khắc họa vẻ đẹp trữ tình thơ mộng của Đà giang
* Làm nên nét trứ tình, thơ mộng đầu tiên là hình ảnh sông Đà được khám phá từ trên máy bay nhìn xuống, tác giả phát hiện hình dáng và màu sắc của sông Đà mang vẻ đẹp duyên dáng như một mĩ nhân
- Hình dáng: Trong dáng hình, sông Đà thật đẹp. Đó là nét uốn lượn mềm mại được thể hiện qua rất nhiều hình ảnh so sánh “sợi dây thừng ngoằn ngoèo”, áng tóc mun ngàn ngàn vạn vạn sải. Như một nhà quay phim, nhà nhiếp ảnh tài hoa, từ trên máy bay nhìn xuống Nguyễn Tuân đã khám phá hình dáng của con sông Đà thật nên thơ, gợi cảm với vẻ đẹp trữ tình, vẻ mềm mại, dịu dàng, thướt tha “con sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng 2 và cuồn cuộn mùi khói núi Mèo đốt nương xuân”-> Câu văn dài cùng thủ pháp trùng điệp “tuôn dài tuôn dài”, so sánh độc đáo, ngôn ngữ gợi cảm giàu chất thơ à Sông Đà như bức tranh thuỷ mặc, lúc ẩn lúc hiện, giữa khung cảnh mây trời Tây Bắc bao la và bảng lảng màu sương khói. Trên “áng tóc trữ tình” của người thiếu nữ trẻ trung kiều diễm ấy điểm xuyết bởi sắc trắng của hoa ban, sắc đỏ thắm của hoa gạo gợi vẻ đẹp mơ màng, thanh tân, bồng bềnh sương khói. Có thể thấy, dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Tuân, sông Đà hiện lên như người thiếu nữ Tây Bắc với vẻ đẹp trữ tình, trẻ trung và duyên dáng. Đứng trước vẻ đẹp đó của con sông, Nguyễn Tuân bộc lộ cảm xúc say mê, tự hào.
- Vẻ đẹp trữ tình của sông Đà còn hiện ra qua màu sắc đầy biến ảo. Với con mắt của một nhà hội hoạ, Nguyễn Tuân còn phát hiện ra vẻ đẹp màu nước của dòng sông Đà thay đổi theo mùa:
+ Mùa xuân: “dòng xanh màu ngọc bích” - 1 màu xanh trong sáng gợi cảm, quí phái chứ không phải màu xanh canh hến của nước sông Gâm, sông Lô
+ Mùa thu: “nước sông Đà lừ lừ chín đỏ” như da mặt 1 người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ của 1 người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về . Cái màu đỏ ấy trong dòng nước đỏ nặng phù sa từ thượng nguồn mang về bồi đắp cho đôi bờ, mang đến sự trù phú giàu có cho quê hương đất nước.
- Không chỉ vậy, tác giả còn đặt con sông trong chiều dài lịch sử, khẳng định một cách quả quyết “chưa bao giờ tôi thấy dòng sông Đà màu đen như thực dân Pháp đã đè ngửa con sông ta ra đổ mực Tây vào và gọi bằng 1 cái tên “Tây láo lếu” – sông Đen. Câu văn gợi nhớ tới thời kì con sông Đà chịu chung số phận nô lệ đau thương cùng dân tộc. Bằng sự khẳng định này, Nguyễn Tuân không chỉ tôn vinh vẻ đẹp của dòng sông mà còn trực tiếp bày tỏ tình cảm yêu mến đối với sông Đà, niềm tự hào về vẻ đẹp của con sông xứ sở. Qua đó tác giả gián tiếp bộc lộ tình yêu đối với quê hương đất nước.
* Với điểm nhìn từ trên dốc núi nhìn xuống, từ trong rừng nhìn ra Sông Đà gợi cảm như một cố nhân
- Hai chữ cố nhân vừa là hình ảnh nhân hóa dòng sông như một người bạn cũ vừa đưa đến cho dòng sông chút vương vấn cổ xưa của Đường thi. Cảm xúc gặp lại sông Đà đã được cụ thể hóa trong những so sánh bất ngờ thú vị. Niềm ui sưvớng ngập tràn trong tâm hồn tác giả khi gặp lại con sông được bật thốt ra thành thán từ “chao ôi”
- Hình ảnh so sánh “vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm”, vui như “nối lại bao giấc chiêm bao đứt quãng” đã cụ thể hóa niềm vui của tác giả. “Nắng giòn tan” là một ẩn dụ đẹp để gợi ra cái nắng thật trong, thật sáng, thật mỏng và thật nhẹ; nó vừa mong manh vừa quý giá, nó hoàn toàn tương phản với cái u ám trĩu nặng của bầu trời những ngày mưa dầm. Cách so sánh ấy giúp người đọc dễ hình dung ra cảm giác trìu mến nâng niu cùng niềm vui sảng khoái của nhà văn khi gặp lại dòng sông. Sông Đà còn quý giá hơn với nhà văn khi ông so sánh với niềm vui tái ngộ với dòng sông cố nhân như niềm vui nối lại chiêm bao đứt quãng. Có thể thấy cảm giác khi gặp lại dòng sông lần nào cũng tươi mới, kỳ diệu như được nối lại giấc mơ đẹp vừa được tận hưởng niềm vui chưa từng có trong cuộc đời. Như vậ, sông Đà đã thực sự là người bạn tri âm của tác giải với bao kỉ niệm gắn bó trong quá khứ, bao lưu luyến ở hiện tại, bao hẹn hò chung thủy ở tương lai. Dẫu người bạn ấy trái tính trái nết nhưng vẫn có sức hấp dẫn và mê hoặc lòng người đến lạ.
- Nhìn màu nắng trên sông, Nguyễn Tuân liên tưởng đến màu nắng tháng ba Đường thi mang phong vị cổ điển trong những vần thơ tuyệt bút của Lý Bạch “Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu” (Giữa mùa hoa khói Châu Dương xuôi dòng). Như vậy, với cách cảm nhận ấy đã khiến sông Đà không chỉ chảy trong không gian mà còn trôi chảy trong thời gian xa xăm từ vạn cổ của thế giới Đường thi.
* Nét thơ mộng trữ tình của sông Đà còn được cảm nhận ở điểm nhìn từ trên thuyền nhìn ra, tác giả phát hiện ra cảnh hai bên bờ sông mang vẻ đẹp hoang sơ, tĩnh lặng và tràn đầy sức sống.
- Trước hết là vẻ đẹp tĩnh lặng, hoang sơ
+ “Thuyền tôi trôi trên sông Đà”
> Giọng văn nhẹ êm, tha thiết
> Khẳng định sự hiện hữu của chủ thể
> Cảm giác bình yên thanh thản, nhẹ nhàng
+ Cảnh ven sông ở đây lặng tờ. Hình như đời Lý đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi”
> Tính từ “lặng tờ” kết hợp phép liệt kê.
> Dù chỉ phỏng đoán “hình như” nhưng vẻ tĩnh lặng của dòng sông đã gắn theo chiều dài lịch sử từ xưa tới nay.
+ “Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa”
> Điệp ngữ “bờ sông” à nhấn mạnh vẻ đẹp đôi bờ
> Lối so sánh độc đáo lấy cái cụ thể hữu hình so sánh với cái trừu tượng vô hình.
> Khẳng định bờ bãi Sông Đà giao thoa giữa hai vẻ đẹp cổ tích và hiện đại vừa quen vừa lạ, vừa gần gũi vừa xa xôi, vừa như thuộc về hiện đại, vừa như thuộc về quá khứ.
- Bên cạnh sự tĩnh lặng, hoang sơ cảnh đôi bờ còn rất tươi non tràn sự sống, sức sống:
+ Một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa
+ Cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp
+ Một đàn hươu cúi đầu ngốn bắp cỏ gianh đẫm sương đêm
+ Đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bụng trắng như bạc rơi.
à Hình ảnh đẹp, bình dị, so sánh gợi cảm
à Gợi vẻ đẹp mơn mởn tươi rói, trù phú, khoẻ khoắn, trẻ trung
+ Nguyễn Tuân thèm cái giật mình của tiếng còi tàu hú từ Yên bái Lai châu à sự hèm khát ấy xuất hiện trong tâm tưởng, trong ước vọng nhưng hứa hẹn mở ra 1 vận hội mới cho mảnh đất Tây Bắc
* Đánh giá chung về hình tượng SĐ
- Nghệ thuật:
+ Bằng lao động sáng tạo nghệ thuật nghiêm túc:
> Đặt câu dựng đoạn công phu
> Ngôn từ biến hoá linh hoạt
> Sông Đà được khám phá bằng nhiều giác quan khác nhau, điểm nhìn khác nhau, không gian khác nhau và bằng sự trải nghiệm của chính tác giả.
+ Ngòi bút của Nguyễn Tuân tài hoa uyên bác:
> Nguyễn Tuân khám phá cái dữ dội phi thường đồng thời nhận ra cái nên thơ – nhạc – hoạ trong cái bình thường.
> Vận dụng kiến thức: Đông tây kim cổ
- Nội dung:
+ Sông Đà trong cảm nhận của Nguyễn Tuân không phải là vật vô tri vô giác mà có tính cách, tâm trạng
+ Với vẻ đẹp vừa hung bạo vừa trữ tình (khi thì dữ dằn như một kẻ thù số 1 của con người, lúc thì thơ mộng như 1 người thiếu nữ; khi thì cổ kính như 1 áng Đường thi, lúc thì đầm ấm như một mỹ nhân và thật đáng yêu như 1 tình nhân chưa quen biết)
- Tiêu biểu: Vẻ đẹp của sông Đà tiêu biểu cho sự hùng vĩ thơ mộng của thiên nhiên Tây Bắc, thiên nhiên đất nước Việt Nam.
- Thái độ và tình cảm của Nguyễn Tuân
+ Mỗi trang viết là kết quả của lao động nghệ thuật nghiêm túc sáng tạo và sự trải nghiệm cuộc sống
+ Bộc lộ tình yêu thiên nhiên đất nước, lòng tự hào dân tộc của 1 nhà văn nặng tình nghĩa với quê hương
- Ý nghĩa hình tượng:
+ Miêu tả sông Đà, Nguyễn Tuân ngầm dự báo nguồn thuỷ điện phong phú
+ Khơi gợi niềm khát khao khám phá, chinh phục con sông để phục vụ xây dựng CNXH
+ Sông Đà là phông nền để ông lái đò xuất hiện, để Nguyễn Tuân tôn vinh vẻ đẹp người lao động.
2. Hình tượng / Vẻ đẹp Ông lái đò
2.1. Giới thiệu chung
- Đây là hình tượng trung tâm xuyên suốt, góp phần thể hiện rõ nội dung, tư tưởng, chủ đề của tác phẩm
- Là người lao động bình dị nhưng mang vẻ đẹp trí dũng song toàn và rất mực tài hoa, nghệ sĩ
- Với lối viết độc đáo, NT đã khắc chạm trước mắt người đọc 1 bức chân dung người lái đò đầy rõ nét và sống động
2.2 . Vẻ đẹp ông lái đò
a. Trước hết, ông lái đò là người lao động bình thường, giản dị
- Là một người lao động miền Tây Bắc làm nghệ chèo đò trên sông Đà, một công việc bình dị, quen thuộc ở vùng sông nước
- Nhà văn gọi tên nhân vật theo nghề nghiệp và tuổi tác: người lái đò, ông lái đò Lai Châu, ông đò, nhà đò.
+ Thể hiện vẻ đẹp bình dị, vô danh của con người lao động trong cuộc sống mới, những con người ngày đêm lao động sản xuất cống hiến cho đất nước. Đa ngành, đa lĩnh vực: quân sự, điện ảnh, hội hoạ, địa lý, lịch sử, âm nhạc,…
+ Tạo nên tính khái quát cho hình tượng: nhân vật có tính đại diện cho vẻ đẹp của con người lao động mà ta có thể bắt gặp bất kì nơi nào trên Tổ quốc.
+ Qua đây ta thấy được sự thay đổi trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân không chỉ dừng lại khắc họa một lớp người đặc tuyển trước cách mạng mà ông đi sâu khám phá vẻ đẹp của con người lao động rất bình thường, giản dị.
b. Ông lái đò là 1 người có trí dũng, kiên cường
* Hoàn cảnh cuộc chiến: để làm nổi bật hình tượng ông lái đò, nhà văn đã đặt nhân vật vào 1 hoàn cảnh đặc biệt, 1 tình huống đầy gay go, kịch tính: cuộc chiến đấu với con sông Đà hung dữ.
- Sự hung bạo của nó thể hiện ở:
+ Những vách đá hẹp dựng đứng, tối và lạnh
+ Ở những cái hút nước xoáy tít như những cái giêng bê tông thả xuống sông để làm móng cầu
+ Ở thạch trận như 1 trận đồ bát quái với nhiều hàng, tuyến, nhiều cửa tử
+ Ở binh pháp thâm độc, tinh vi của thần sông, thần đá
-> con sông Đà được miêu tả như 1 lũ thủy quái khổng lồ đầy hung hãn, nham hiểm quỷ quyệt, bày ra thiên la đĩa võng để nhử người lái đò và huy động tổng lực mọi sức mạnh, mọi trí lực nhằm tiêu diệt con thuyền và ông lái đò
->Tuy nhiên, sự hung bạo dữ dội của Đà giang trở thành 1 môi trường lửa, qua đó giúp ông lái dò toát lên phẩm chất “vàng mười”, đó là vẻ đẹp trí dũng song toàn
* Vẻ đẹp trí dũng
- Trí
+ Người lái đò có sự am hiểu sâu sắc quy luật phục kích, binh pháp của thần sông, thần đá:
@ Nguyễn Tuân ví con sông Đà như 1 thiên anh hùng ca mà người lái đồ thuộc cả những dấu chấm câu, những đoạn xuống dòng
@ Hơn 10 năm chèo đò ông lái đò đã nắm chắc tính cách của từng hòn đá với âm mưu thâm độc của dòng sông. Ông thuộc sông Đà như thuộc lòng bàn tay của mình, nhớ tỉ mỉ đến từng luồng lành, luồng dữ, những tảng đá chìm, đá nổi
+ Chính sự am hiểu đó đã giúp người lái đò có được sự mưu trí, khôn khéo trong quá trình chinh phục và chiến thắng dòng sông
@ Ông lái có sự thay đổi chiến thuật, chiến lựợc rất linh hoạt. Tùy mỗi trùng vi thạch trận mà ông chọn 1 chiến thuật khác nhau
@ Bàn tay ông rất linh hoạt, uyển chuyển khi đối diện với lũ đá nơi ải nước hiểm trở “đứa ông đè sấn lên mà chặt đôi để mở đường tiến, đứa thì ông tránh mà rảo bơi chèo…”
-> con thuyền vượt qua những luồng dữ trước hết nhờ sự mưu trí, khôn ngoan của người lái đò từng trải
- Dũng: Không chỉ là người thông minh mưu trí trên sông nước, ông lái đò còn là một vị tướng tài ba có sức chịu đựng phi thường. Tính cách dũng mãnh của ông đò còn được thể hiện rõ nét qua cuộc vượt thác. Ở đây ông lái đò hiện lên như 1 vị tướng tài ba, lẫm liệt, tả xung hữu đột trên chiến trường Đà giang
+ Ở trùng vi thạch trận thứ 1:
@ Trước sự hung bạo, hiếu chiến của con sông Đà, ”ông đò hai tay giữ mái chèo khỏi bị hất lên khỏi sóng trận địa phóng thắng vào mình” -> Tư thế vững vàng, kiên cường và chủ động. Tư thế ấy chỉ có thể có được khi ông hiểu sâu sắc những ghềnh thác, những vực sâu, những trùng vi thạch trận, những cửa ải đó...
@ Có khi phải đối diện với sự tấn công ào ạt của đá, sóng. Sóng nước như một đội quân hiếu chiến vừa hò la vang trời, vừa liều mạng thúc gối vào bụng vào hông thuyền, đánh đến miếng đòn độc hiểm nhất. Ông lái đò đã bị thương “mặt méo bệch” nhưng vẫn cố gắng nén vết thương, hai chân kẹp chặt lấy cuống lái, tiếng chỉ huy vẫn tỉnh táo, ngắn gọn., không chịu khuất phục sóng thác mà vẫn bền bỉ chiến đấu, không rời vũ khí, không rời trận địa.
-> Qua đó, ta thấy ông lái đò hiện lên với 1 tư thế hùng dũng, kiên cường đầy tự tin, đĩnh đạc, làm chủ mặt trận sông nước với sức chịu đựng phi thường và lòng dũng cảm vô song
=> Hình ảnh gợi ta liên tưởng tới những chiến sĩ, dũng sĩ nơi sa trường, mình đầy thương tích nhưng vẫn không rời vị trí, vẫn nắm chắc tay gươm, tay súng
+ Ở trùng vi thứ 2:
@ Ông lái đò hiện ra như một dũng tướng hiên ngang làm chủ hoàn toàn thế trận, “tả xung hữu đột” giữa trận chiến không một chút nao núng với những động tác quyết liệt, nhanh mạnh và dứt khoát: “nắm chặt lấy được cái bờm sóng đúng luồng rồi, ông đò ghì cương lái, bám chắc lấy luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh, mà lái miết một đường chéo về phía cửa đá ấy”. Hình ảnh ông lái đò ở đây khiến người đọc liên tương đến những chiến binh lẫm liệt, hiên ngang trên yên ngựa, xông pha giữa trận tuyến.
Một loạt động từ “nắm chặt”, “ghì”, “bám chắc”, “phóng nhanh”, “lái miết” đã vẽ ra trước mắt người đọc những động tác nhanh, gọn và quyết đoán
@ Với mỗi kẻ thù, ông có một cách đối phó riêng: “Đứa ông tránh mà rảo bơi chèo, đứa thì ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến”. Bởi vì “ông đò vẫn nhớ mặt bọn này”, ông hiểu được quy luật phục kích của lũ đá, của sóng thác.
-> Như vậy ở đây ông lái đò hoàn toàn làm chủ thế trận, những đòn đánh hiểm ác của thác đá sông Đà không thể khuất phục được vị dũng tướng này. Một loạt động từ chỉ những động tác mạnh, chính xác đầy quyết đoán đã thể hiện được phẩm chất đó của người nhà đò như “năm chặt, ghì, bám chắc, phóng nhanh”
+ Ở trùng vi thứ 3, bản lĩnh của người nhà đò được thể hiện tập trung qua hành động táo bạo và quyết đoán như 1 cảm tử quân lái con thuyền phóng thẳng chọc thủng cửa giữa của bọn đá hậu vệ con thác.
+ Sau khi vượt thác nước dữ dội của sông Đà, ông lái đò trở về với một thái độ bình thản, “chả thấy ai bàn thêm một lời nào về cuộc chiến thắng vừa qua”, “cuộc sống của họ là ngày nào cũng chiến đấu với sông Đà dữ dội, nagỳ nào cũng giành lấy cái sống từ tay những cái thác, nên nó cũng không có gì là hồi hộp đáng nhớ. Phong thái bình thản đó càng tô đậm thêm vẻ đẹp dùng cảm, hiên ngang của người lái đò.
c. Không chỉ là người trí dũng song toàn, ông lái đò còn là một con người hất mực tài hoa nghệ sĩ trong công việc của mình
* Nhận xét chung: Người lái đò sông Đà trong cảm nhận của NT thực sự là 1 nghệ sĩ tay lái ra hoa trong nghề vượt thác của mình. Ngòi bút của nhà văn đã tinh tế phát hiện, nâng niu, trân trọng tâm hồn, tư chất nghệ sĩ tài hoa của những con người lao động bình dị miền Tây Bắc
* Cụ thể:
- Dười con mắt của NT, ông lái đò đã làm chủ được quy luật sông nước, nghĩa là ông đã đạt tới sự tự do và trình độ nghệ thuật trong nghề nghiệp. Người nhà đò có 1 sự am hiểu tường tận và sâu sắc con sông Đà. Kinh nghiệm vượt thác nước con sông Đà trong 10 năm và xuôi ngược trên đó hơn 100 lần, giữ tay lái chính độ 60 lần đã giúp ông nắm chắc được binh pháp của thần sông, thần đá và quy luật phục kích của lũ đá nơi cửa ải nước hiểm trở. Vì vậy ông đã đưa được con thuyền tránh những cửa tử và đi vào của sinh. Ông thay đổi chiến thuật rất linh hoạt, không 1 phút nghỉ tay, nghỉ mắt nhằm phù hợp với sự hung dữ của Đà giang
- Vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ của người nhà đò dưới con mắt của Nguyễn Tuân còn thể hiện qua việc thay đổi chiến thuật, chiến lược rất linh hoạt để đối phó với sự nham hiểm của con sông Đà. Vượt qua được trùng vi thạch trận thứ nhất, sang trùng vi thạch trận thứ hai ông đò phải đổi luôn chiến thuật, đưa con thuyền luồn lách qua những cửa ải đá hiểm trở từ tả ngạn chuyển sang hữu ngạn. Đến trùng vi thạch trận thứ 3, ông lái đò lại lái con thuyền đi giữa bọn đá hậu vệ.
- Động tác của người lái đò sông Đà rất mềm mại, uyển chuyển mà nói như Nguyễn Tuân đó là “Tay lái ra hoa”. Con thuyền dưới tay lái của ông vừa mạnh mẽ, vừa duyên dáng, uyển chuyển. Nó như 1 mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được, lượn được. Con thuyền lướt trên sóng nước Đà giang mềm mại như 1 vũ công
- Sau cuộc vượt thác, ông trở về với cuộc sống bình dị “chả thấy ai bàn thêm 1 lời nào về chiến thắng vừa qua nơi ải nước đủ tướng dữ, quân tợn vừa rồi”. Ông đò cùng với những người khác say mê với vị cơm lam với những câu chuyện về đàn cá anh Vũ, cá dầm xanh, về “cái hầm cá, hang cá nổ những tiếng to như mìn bộc phá”. Như vậy cuộc chiến đáu dữ dội với sông Đà hay cuộc sống lao động vất vả không làm giảm đi tâm hồn nghệ sĩ say mê khám phá vẻ đẹp trù phú của thiên nhiên, sông nước, của quê hương xứ sở ở người lái đò
* Đánh giá về ông lái đò:
1. Nghệ thuật miêu tả ông lái đò:
- Nhân vật được đặt vào tình huống đầy thử thách, hấp dẫn, giàu kịch tính: Một bên là ông lái đò với 6 bạn đò nhỏ bé và 1 bên là sông Đà hung hãn nguy hiểm-> cuộc vượt thác đầy cam go, dữ dội-> làm nổi bật chất vàng 10 của ông lái đò
- Miêu tả và khắc họa chân dung, tính cách nhân vật: chân thực, tinh tế, sống động bằng những chi tiết chon lọc như ngoại hình, hành động, cử chỉ…
- Nhà văn đã vận dụng vốn hiểu biết ở nhiều lĩnh vực khác nhau như quân sự, thể thao, điện ảnh… để cảm nhận ông lái đò ở nhiều góc độ.
- Ngôn ngữ:
+ Giàu chất tạo hình, câu văn co duỗi linh hoạt: có những câu dồn dập nhiều vế ngắn, nhiều động từ mạnh; lại có những câu văn dàn trải nhẹ nhàng, vừa phù hợp với cảnh sắc thiên nhiên, vừa phù hợp với động tác của nhân vật
+ Hình ảnh so sánh liên tưởng trùng trùng, điệp điệp rất độc đáo và táo bạo giúp nhà văn khắc chạm được 1 cách đầy ấn tượng vẻ đẹp của người nhà đò.
2. Nội dung
Tác phẩm ngợi ca ông lái đò- người lao động bình thường mà vĩ đại, thông minh dũng cảm tài hoa như nghệ sĩ.
3. Tiêu biểu
Vẻ đẹp ông lái đò tiêu biểu vẻ đẹp người lao động con người Tây Bắc nói riêng và cong người Việt Nam nói chung trong những năm đầu xây dưng CNXH: cần cù trong lao động sản xuất, dũng cảm chiến đấu với thế lực tự nhiên, rất mực sang trọng tài hoa như nghệ sỹ
4. Thái độ của tác giả - tình cảm của em – sức sống nhân vật
- Qua nhân vật:
+Nguyễn Tuân phát biểu quan niệm: người anh hùng không chỉ có trong chiến đấu mà còn có trong lao động sản xuất.
+ Tác giả yêu thương, trân trọng, tự hào, cảm phục,ngưỡng mộ ông lái đò
- Nguyễn Tuân nhóm lên trong lòng người đọc niềm tin về sức mạnh con người Việt Nam trong Xây dựng CNXH.
- Tác phẩm như 1 thiên anh hùng ca tráng lệ về vẻ đẹp con người lao động trong cuộc sống mới. Ông lái đò toả sáng trên trang tuỳ bút của Nguyễn Tuân.
Quảng cáo
Bạn cần hỏi gì?
Câu hỏi hot cùng chủ đề
-
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
96511 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
57880 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
52233 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
45331 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
40411 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
39400 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
37495 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
35106 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
32983 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
31346
