Quảng cáo
4 câu trả lời 872
Để chọn một tác phẩm hay nhất phản ánh được tận cùng thân phận của người nông dân trong xã hội cũ thì không thể không nhắc đến tác phẩm Chí Phèo. Mới đầu người ta nghĩ nhân vật anh Pha trong “Bức đường cùng” của Nguyễn Công Hoan bị sưu thuế đè nặng và đẩy vào tình cảnh nghèo đói, không lối thoát. Rồi cho đến nhân vật chị Dậu người ta lại thấy tình cảnh người nông dân khổ sở thêm mức nữa bởi chị phải bán chó bán con để đóng sưu. Tưởng chừng không còn gì để khổ hơn thì Chí Phèo trong trang sách của Nam Cao ngật ngưỡng bước ra thì người ta mới cảm nhận thấy được đây mới là sự tận cùng của cái khổ. Chí Phèo bán cả nhân hình lẫn nhân tính của mình để nhận được cái kết là trở thành quỷ dữ của làng Vũ Đại. Nhân vật Chí Phèo chí là hiện thân đầy đủ nhất về nỗi khổ của người nông dân trong xã hội và khiến cho tác phẩm “Chí Phèo” vẫn còn sống đến tận bây giờ.
Có thể thấy được nhân vật Chí Phèo hiện lên với một nỗi bi kịch. Đó chính là bi kịch của một nông dân cùng khổ đã bị xô đẩy vào con đường lưu manh tội lỗi, Chí Phèo đã bị cự tuyệt quyền làm người. Nói một cách dễ hiểu thì số phận bi thảm của một con người muốn được làm người – đây là quyền ai cũng có cả thế nhưng với Chí Phèo lại không được như thế. Nhà văn Nam Cao thật tài tình khi đã viết về tấn bi kịch của nhân vật vô cùng sắc sảo. Thêm với đó thì luôn biết biến hóa lúc kể, lúc tả, có lúc thì triết lí thì thấm thía vô cùng trữ tình thì đau đớn xót xa đầy ám ảnh nghệ thuật. Đồng thời cũng đã lại làm xúc động lòng người hơn nửa thế kỷ nay.
Nhà văn Nam Cao dường như không nói về sưu thuế đã khiến con người có được những khám phá riêng về chính số phần của người lao động. Người lao động bị chà đạp và đồng thời họ cũng có một cái nhìn thật mới mẻ và cũng thật độc đáo, sâu sắc trong việc thể hiện nỗi đau khổ trăm chiều của người nông dân nghèo bị áp bức, bóc lột đến tàn tệ trong xã hội nửa thực dân, nửa phong kiến.
Xây dựng lên nhân vật Chí Phèo bất hạnh chính ngay từ khi sơ sinh theo lời kể của nhà văn Nam Cao “trần truồng và xám ngắt trong một cái váy đụp để bên cạnh lò gạch bỏ không”. Thế rồi có anh thả ống lươn thấy và đem cho một người đàn bà góa mù nuôi, sau đó Chí Phèo cũng lại bị đem bán cho bác phó cối. Chí Phèo – một anh nông dân lớn lên trong cảnh bơ vơ, không cha mẹ, không họ hàng thân thích, lại còn nghèo đến mức không một mái lều che thân cũng chẳng có lấy một tấc đất cắm dùi. Chí Phèo sống cứ hết đi ở cho nhà này lại đi ở cho nhà nọ cho đến năm 20 tuổi thì nhân vật Chí Phèo làm canh điền cho lí Kiến.
Nam Cao nói về trang đời thơ ấu vô cùng bất hạnh của Chí Phèo đó chính là khoảng thời gian 20 năm trời đắng cay. Chính tấn bi kịch của anh canh điền này bắt đầu từ câu chuyện bà Ba ông lí còn trẻ lắm mà bà Ba lại cứ “hay ốm lửng, bắt hắn bóp chân, hay xoa bụng, đấm lưng gì đấy”. Chí Phèo là người chứ không phải là gỗ đá, nhưng hắn thấy nhục hơn là thích, huống hồ lại sợ. Thế rồi xuất phát chỉ một chuyện ghen tuông không đau thôi mà Bá Kiến đã ngấm ngầm cấu kết với quan trên bắt Chí Phèo giải lên huyện, đồng thời cũng lại bỏ tù hắn bảy tám năm trời. Khi Chí Phèo ở nhà tù thực dân đã biến anh từ một nông dân lương thiện, hiền lành trở thành một tên lưu manh, trở thành một con quỷ dữ trong làng Vũ Đại.
Chí Phèo đi tù biệt tăm và rồi khi trở về thì trông ngoại hình của Chí đã khác hẳn. Câu văn miêu tả “Cái đầu thì trọc lóc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà rất câng câng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết. Chí mặc cái quần nái đen, cái áo tây vàng, cái ngực và cái tay chạm trổ rồng, phượng nói một ông tướng cầm chùy”... Tất cả đó là một hình ảnh của Chí Phèo, đã vậy Chí lại chuyên rạch mặt ăn vạ. Ra tù phải đến nhà Bá Kiến để hỏi tội và Chí Phèo đã hành động như một tên đầu bò vô cùng ngang ngược. Thế nhưng chỉ một bữa rượu thịt, một vài câu mơn trớn thêm với đó là một đồng bạc đãi thêm của cụ Bá đã làm cho Chí Phèo vô cùng hả hê và quên hết Bá Kiến đã đẩy mình vào tình trạng như thế.
Chưa hết, Bá Kiến hiểu được “Thứ nhất sợ kẻ anh hùng, thứ 2 sợ kẻ cố cùng liều thân” cho nên đã ngon ngọt nịnh Chí Phèo trở thành đầy tớ chân tay mới của Bá Kiến. Chí Phèo đã bán mình cho quỷ dữ cũng chẳng bao lâu hắn cũng trở thành một con quỷ dữ ghê tởm khiến ai ai cũng phải sợ. Chí như cứ triền miên, chìm ngập vào trong vũng bùn vô cùng tăm tối và tội lỗi với hơi rượu. Rượu đã làm cho Chí Phèo mất hết ý niệm về thời gian, tuổi tác, Chí không nhớ một điều gì nữa cả. Hình ảnh Chí Phèo hiện lên là một con vật lạ, trên mắt có đầy những vết rạch mặt dọc ngang thật ghê sợ. Chí Phèo đâm thuê chém mướn để kiếm tiền mà uống rượu, cứ những cơn say của Chí như cứ từ cơn say này sang cơn say khác. Chí đã bị mua chuộc, bị xô đẩy vào con đường lưu manh hóa bao nhiêu tội lỗi. “Hắn biết đâu hắn đã phá bao nhiêu cơ nghiệp, đập nát bao nhiêu cảnh yên vui, đạp đổ bao nhiêu hạnh phúc, làm chảy máu và nước mắt của bao nhiêu người lương thiện”.
Chí Phèo lúc này đây cũng đã bị cả xã hội ruồng bỏ, ngay cả cái thẻ có biên tên tuổi của Chí Phèo cũng không có trong sổ làng. Thế rồi chính người ta vẫn khai hắn vào hạng dân lưu tán đã rất lâu năm không về làng. Thực sự giờ đây mỗi khi hắn xuất hiện thì cả dân làng đều sợ hắn, thậm chí là còn tránh mặt hắn mỗi lần hắn qua. Chí Phèo chửi thì ai cũng nghĩ chắc “nó chừa mình ra”, tiếng chửi như xuất hiện ngay đầu câu chuyện khiến nó cứ ám ảnh về một con người nhưng lại bị cả xã hội không công nhận. Người ta giao tiếp với nhau bằng tiếng nói còn đối với Chí Phèo thì lại dùng tiếng chửi. Thế nhưng cũng không ai để ý đến Chí nữa, Chí Phèo như đã bị xã hội dứt khoát cự tuyệt không được nhìn nhận là người.
Thông qua nhân vật Chí Phèo, nhà văn Nam Cao đã phản ánh một hiện thực khá phổ biến đồng thời cũng có tính quy luật ở nông thôn nước ta dưới thời Pháp thuộc. Trong chế độ nửa thực dân, nửa phong kiến cũng có rất nhiều người lao động lương thiện bị xã hội xô đẩy vào chính con đường cùng, đã phản kháng lại, lưu manh liều mạng để tồn tại. Qua tác phẩm “Chí Phèo” nhà văn Nam Cao đã gửi gắm một điều đó chính là chừng nào còn bọn cường hào sâu mọt, nhẫn tâm, độc ác và áp bức bóc lột tàn tệ dân lành thì chừng đó chắc chắn sẽ còn người lao động lương thiện, hiền lành bị xô đẩy vào con đường lưu manh tội lỗi. Chính cái xã hội đó cũng đã lấy mất đi linh hồn của Chí Phèo, hủy diệt nhân tính, nhân hình của một anh nông dân chất phác. Nhà văn Nam Cao cũng đã cho thấy được quy luật bạo tàn, ghê sợ trong xã hội cũ.
Và rồi cho đến khi Chí Phèo gặp Thị Nở. Thị Nở được miêu tả là một người xấu đến ma chê quỷ hờn. Sau cuộc làm tình mang tính bản năng của Chí Phèo thì với sự chăm sóc cẩn thận của Thị Nở Chí Phèo lúc này cũng đã khiến cho Chí Phèo thay đổi. Sáng hôm sau, lần đầu tiên Chí Phèo tỉnh dậy trong cơn say triền miên tưởng không dứt. Chí Phèo bị cảm và Thị Nở đã chăm sóc cũng như nấu cho Chí một bát cháo hành. Cuộc đời Chí muốn ăn thì phải cướp, giành lấy chứ chưa bao giờ được ăn và lại được người khác mang cho như này. Chí Phèo – một con quỷ dữ của làng Vũ Đại ai ai cũng sợ hắn và duy chỉ có thị Nở mới nhận ra Chí Phèo sao mà hiền!
Chí Phèo tỉnh trong cơn say triền miên thì có những tiếng chim hót vui vẻ, tiếng người đi chợ cười nói có cả tiếng anh thuyền chèo gõ mái chèo đuổi cả... Tất cả những điều này đó chính là những tiếng quen thuộc ấy hôm nào chả có, nhưng hôm nay Chí mới nghe thấy rõ nhất, đó chính là tiếng của nhịp sống mà lâu nay Chí đã bỏ quên. Trong lòng Chí Phèo như cũng vô cùng buồn và mong muốn có thể làm hòa với mọi người, muốn trở thành người lương thiện. Bất giác Chí như nhớ về ước mơ bình dị bấy đó là ước mơ “có một gia đình nho nhỏ, chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải. Nuôi lợn làm vốn liếng, khá giả thì mua dăm ba sào ruộng”. Chí nhớ lắm và Chí lại lo sợ về cuộc đời, Thị Nở chính là người đã khiến cho Chí nhận ra được cuộc sống ý nghĩa.
Bằng con mắt tinh tế, thấu hiểu nhân vật nhà văn Nam Cao đã cho chúng ta thấy, Chí Phèo vốn là một người lao động cùng khổ lương thiện. Ở Chí thì cái bản tính của hẳn ngày thường bị lấp đi và được sự chăm sóc của thị Nở thì nay đã hồi sinh trở về. Thực sự đó cũng chính là một cái nhìn vô cùng sâu sắc cùng với tấm lòng xót thương đầy tình người của nhà văn đối với những kiếp người lương thiện mà bị xã hội xa lánh.
Khi mà linh hồn thức tỉnh, bản tính bị lấp đi dần dần lộ ra thì bỗng nhiên Chí Phèo bỗng thấy thèm lương thiện thế những định kiến xã hội – bà cô thị Nở cấm đoán đã khiến cho Chí không thể hoàn lương. Ở Chí Phèo vật vã trong cơn đau đớn tuyệt vọng và muốn “đâm chết con đĩ Nở kia, đâm chết cái con khọm già nhà nó”. Chí lại tìm đến rượu, và khác với những cơn say khác Chí rất tỉnh táo khi nhận ra được kẻ thù của mình chính là Bá Kiến. Chí xách dao đến nhà Bá Kiến để đòi lương thiện bằng cách đâm chết Bá Kiến sau đó cũng tự kết liễu đời mình. Khi ý thức về nhân phẩm đã trở về thì Chí Phèo không thể sống kiểu lưu manh, không thể làm quỷ dữ và không thể chấp nhận được kiếp sống như thú vật được nữa. Cái chết của Chí Phèo rất bi thảm, quằn quại trên vũng máu của mình. Anh chết trong tiếng kêu uất hận đau thương, ám ảnh vì anh chết ngay trên ngưỡng cửa về cuộc đời.
Nhân vật Chí Phèo là một nhân vật, một hiện tượng lưu manh hóa ở nông thôn mang tính chất điển hình. Ở nhân vật cũng đã lên án đanh thép cái xã hội tàn bạo đẩy người dân cày nghèo vào kiếp sống tối tăm thú vật, xã hội đó cũng đã cướp đi của họ cả bộ mặt, cả linh hồn người để trở thành quỷ dữ. Câu nói của Chí Phèo kết thúc chuyện thực sự ám ảnh, nó giống như một lời tố cáo đanh thép của nhà văn trước xã hội đầy bất công đã đẩy người nông dân vào mức đường cùng không lối thoát. “Ai cho tao lương thiện?”
Với tác phẩm “Chí Phèo” nhà văn đã viết lên một câu chuyện như vừa chứa chan tình cảm nhân đạo, đồng thời cũng lại mang ý nghĩa triết lí sâu sắc được thể hiện dưới hình thức nghệ thuật độc đáo. Tất cả từ hình thức đến nội dung của truyện đã đạt đến độ độc đáo, xứng đáng được coi là một kiệt tác văn học của dòng văn học hiện thực phê phán.
Để chọn một tác phẩm hay nhất phản ánh được tận cùng thân phận của người nông dân trong xã hội cũ thì không thể không nhắc đến tác phẩm Chí Phèo. Mới đầu người ta nghĩ nhân vật anh Pha trong “Bức đường cùng” của Nguyễn Công Hoan bị sưu thuế đè nặng và đẩy vào tình cảnh nghèo đói, không lối thoát. Rồi cho đến nhân vật chị Dậu người ta lại thấy tình cảnh người nông dân khổ sở thêm mức nữa bởi chị phải bán chó bán con để đóng sưu. Tưởng chừng không còn gì để khổ hơn thì Chí Phèo trong trang sách của Nam Cao ngật ngưỡng bước ra thì người ta mới cảm nhận thấy được đây mới là sự tận cùng của cái khổ. Chí Phèo bán cả nhân hình lẫn nhân tính của mình để nhận được cái kết là trở thành quỷ dữ của làng Vũ Đại. Nhân vật Chí Phèo chí là hiện thân đầy đủ nhất về nỗi khổ của người nông dân trong xã hội và khiến cho tác phẩm “Chí Phèo” vẫn còn sống đến tận bây giờ.
Có thể thấy được nhân vật Chí Phèo hiện lên với một nỗi bi kịch. Đó chính là bi kịch của một nông dân cùng khổ đã bị xô đẩy vào con đường lưu manh tội lỗi, Chí Phèo đã bị cự tuyệt quyền làm người. Nói một cách dễ hiểu thì số phận bi thảm của một con người muốn được làm người – đây là quyền ai cũng có cả thế nhưng với Chí Phèo lại không được như thế. Nhà văn Nam Cao thật tài tình khi đã viết về tấn bi kịch của nhân vật vô cùng sắc sảo. Thêm với đó thì luôn biết biến hóa lúc kể, lúc tả, có lúc thì triết lí thì thấm thía vô cùng trữ tình thì đau đớn xót xa đầy ám ảnh nghệ thuật. Đồng thời cũng đã lại làm xúc động lòng người hơn nửa thế kỷ nay.
Nhà văn Nam Cao dường như không nói về sưu thuế đã khiến con người có được những khám phá riêng về chính số phần của người lao động. Người lao động bị chà đạp và đồng thời họ cũng có một cái nhìn thật mới mẻ và cũng thật độc đáo, sâu sắc trong việc thể hiện nỗi đau khổ trăm chiều của người nông dân nghèo bị áp bức, bóc lột đến tàn tệ trong xã hội nửa thực dân, nửa phong kiến.
Xây dựng lên nhân vật Chí Phèo bất hạnh chính ngay từ khi sơ sinh theo lời kể của nhà văn Nam Cao “trần truồng và xám ngắt trong một cái váy đụp để bên cạnh lò gạch bỏ không”. Thế rồi có anh thả ống lươn thấy và đem cho một người đàn bà góa mù nuôi, sau đó Chí Phèo cũng lại bị đem bán cho bác phó cối. Chí Phèo – một anh nông dân lớn lên trong cảnh bơ vơ, không cha mẹ, không họ hàng thân thích, lại còn nghèo đến mức không một mái lều che thân cũng chẳng có lấy một tấc đất cắm dùi. Chí Phèo sống cứ hết đi ở cho nhà này lại đi ở cho nhà nọ cho đến năm 20 tuổi thì nhân vật Chí Phèo làm canh điền cho lí Kiến.
Nguyễn Công Hoan có Bước đường cùng với anh Pha,… Và đặc biệt là Nam Cao với hàng loạt tác phẩm xuất sắc về người nông dân Việt Nam trước Cách mạng. Trong đó nổi lên hình tượng Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên. Hình tượng nhân vật này đã để lại trong lòng người đọc nhiều cảm nhận sâu sắc.
Chí Phèo là ai? Mở đầu tác phẩm, Nam Cao đã giới thiệu nhân vật của mình một cách độc đáo. Nhà văn đế Chí Phèo hiện lên trong bộ dạng của một kẻ say rượu: “Hắn vừa đi vừa chửi”. Mà hắn chửi mới lạ lùng và ngoa ngoắt làm sao: “Hắn chửi trời, chửi đời, chửi cả làng Vũ Đại, chửi cả những ai không chửi nhau với hắn”. Không lạ sao được bởi khi chửi người ta thường phải hướng tới một đối tượng cụ thể đằng này hắn hướng tới tất cả cuộc đời này, trời đất này. Lạ lùng hơn nữa, đây không phải là lần đầu tiên hắn chửi bỏi “Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi”. Vì sao hắn lại đến nông nỗi ấy? Nhân vật của Nam Cao vừa mới xuất hiện đã trở thành một ấn số khiến người đọc tò mò đoán định: con người ấy không tạo được chút cảm tính nào, song lại gieo vào lòng người một niềm xót xa – hắn anh ta phải có nỗi niềm khổ đau nào đó mới đến nỗi dùng rượu đế hủy hoại thân xác, những tiếng chửi đời ngoa ngoắt kia cũng nói lên một điều rằng chủ nhân của nó đã bị mất hết niềm tin vào cuộc đời, vào con người trên thế gian này. Người đọc tò mò đọc tiếp trang truyện và quả thực, cuộc đời Chí Phèo hiện lên như một cuốn phim bi thảm.
Chí vốn là đứa trẻ bị bỏ rơi một cách tàn nhẫn, sự ra đời của hắn không được ai mong đợi. Nói trắng ra, hắn là một đứa con hoang, cha hắn không thừa nhận, mẹ hắn bỏ lại hắn ở cái lò gạch hoang mặc cho sống chết. Vậy là chỉ có cái lò gạch hoang là đón đợi hắn mà thôi. Khi Chí xám ngắt trong chiếc váy đụp thì những người nông dân nghèo khó đã nhặt hắn. Ban đầu là một anh đi thả ống lươn. Sau đó là một bà góa mù rồi bác phó cối. Khi bác phó cối chết, Chí Phèo thành đứa trẻ bơ vơ muốn có miếng ăn Chí phải đi hết nhà này đến nhà khác, nghèo khó và bẽ bàng. Đời hắn bọt bèo, lênh đênh, tội nghiệp chẳng khác chi một thứ cỏ dại trôi dạt hết góc này đến số nhọ. Âu đó cũng là tình cảnh chung của số phận người nông dân trước cách mạng, đời họ cũng dập dềnh theo những phen phiêu tán li gia. Kẻ đi ở đợ, người buôn thúng bán mẹt nay đây mai đó, cực nhục hơn phải tha hương cầu thực ở xứ người.
Đen năm mười tám đôi mươi, số phận đưa đẩy Chí tới gia đình lí Kiến. Đen cửa nhà giàu tưởng kiếm được bát cơm manh áo ai ngờ lại gặp địa ngục trần gian. Bởi cái con vợ ba “quỷ cái” của lí Kiến cứ bắt hắn bóp chân khêu gợi những chuyện dâm dạt. Hắn vùng vằng: tuy còn trẻ nhưng hắn cũng phân biệt được đâu là tình yêu chân chính đâu là thói dâm dục xấu xa. Sự cám dỗ đó không làm bản chất của Chí bị bôi nhọ. Chí thực sự là chàng trai tự trọng, lương thiện. Suy cho cùng đó là bản chất tốt đẹp của người nông dân xưa, chất phác, thật thà và đầy tự trọng. Đọc đến đây, người đọc khó có thế quên hình ảnh chị Dậu của Ngô Tất Tố cầm nắm giấy bạc ném vào mặt tên quan bỉ ổi, đê tiện. Hay gần gũi hơn là một nhân vật của chính Nam Cao, lão Hạc, lòng tự trọng đã khiến lão từ chối “gần như là hách dịch” mọi sự giúp đỡ của mọi người, và cuối cùng lão đã dùng cái chết để bảo toàn lòng tự trọng cao quý nơi con người mình.
Ớ Chí Phèo, bản chất lương thiện ấy bị cái xã hội tăm tối ra sức hủy diệt. Nhà tù thực dân đã tiếp tay cho tên cường hào lí Kiến bắt giam Chí, biến hắn từ một người lương thiện thành con quỷ dữ.
Sau bảy, tám năm ở tù về Chí trở thành một con quỷ dữ đáng sợ “cái đầu thì trọc lốc”, "răng cạo trắng hớn", “trông gớm chết”. Trên người hắn xăm đầy những hình thù quái dị – bản chất của hắn năm xưa đã biến mất. Bây giờ hắn là một kẻ ác chỉ biết làm việc ác. Nhà văn đã dùng đến hai lần từ “gớm chết” để bày tỏ sự kinh hãi và cũng là đế khu biệt hắn với những người dân lương thiện trong cái làng này. Sự lưu manh của Chí thể hiện cụ thể ngay trong những hành động thường nhật. Mua rượu không được hắn đốt quán, hắn lấy mảnh chai rạch mặt ăn vạ kêu làng… Hắn càng ác và đáng sợ hơn khi rơi vào tay bá Kiến rồi trở thành công cụ đắc lực cho hắn. Chỉ cần bá Kiến quăng cho vài hào hắn có thế đâm chém bất cứ ai, làm tất cả những gì người ta sai. Càng ngày Chí càng trượt dài trên còn đường tội lỗi lưu manh.
Ở đây, với đặc điểm này của Chí Phèo, Nam Cao đã có một phát hiện mới trong đời sống người nông Việt Nam trước Cách mạng. Nếu chỉ dừng lại ở việc miêu tả đời sống khốn cùng, quẫn bách, nỗi cực nhục bọt bèo của người nông dân thì đã có Tắt đèn, đã có Bước đường cùng,… Nhưng cái mới của Nam Cao là đã chỉ ra con đường bị lưu manh hóa về bản chất của người nông dân. Họ vốn chất phác, thật thà, lương thiện và đầy tự trọng. Có những người cả cuộc đời không ra khỏi lũy tre làng thì làm sao có thể hại làng hại nước? Song nhà văn bằng ngòi bút sắc sảo, tỉnh táo đã vạch ra thủ phạm của tội ác đứng sau mỗi con quỷ lương tâm của người nông dân. Đó là những thủ đoạn đê tiện của bọn cường hào địa phương kết hợp với chào hà khắc, tàn bạo của chính quyền thực dân. Chính chúng đã tẩy não, đã nhào nặn lại và rồi bôi bẩn những tâm hồn vốn rất mong manh, lương thiện.
Sông, cái tốt đẹp thuộc về bản chất xưa kia ở Chí Phèo như một tiềm thức sâu xa, nó giống như mặt trời có thế bị che mờ nhưng sẽ không bao giờ nguội tắt. Sau giấc ngủ dài mê man, nó cựa quậy, động đậy đòi tỉnh giấc. Nó thúc giục Chí Phèo trở thành người lương thiện.
Cuộc gặp gỡ với Thị Nở đã mở ra một bước ngoặt lớn lao trong cuộc đời Chí Phèo. Thị Nở chẳng khác nào ánh trăng mát lành của đêm ấy. Tình thương của Thị Nở chang khác nào dòng sông lấp lánh dưới ánh trăng gợi biết bao tình. Điều đó đã thức dậy cái bản chất lương thiện trong Chí làm nó sống lại và thực sự sống lại trong kiếp sống con người. Tình thương quả là một thứ biệt dược, nó có thể khôi phục, chữa lành cả những vết thương bị nhiễm trùng nặng nhất. Đoạn văn viết về sự thức tỉnh của Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở tràn đầy chất thơ. Thị Nở đã làm sống lại trong Chí sự tự’ ý thức về mình. Chí Phèo sống lại với mong ước “một gia đình nhỏ”, “chồng cày thuê cuốc mướn, vợ dệt vải quanh năm, hai đứa bỏ vốn nuôi con lọn”. Sau bao nhiêu năm, hôm nay Chí lại nghe “tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá” hay “tiếng những người đi chợ về hỏi nhau: Hôm nay vải mấy xu hả dì?” Nhũng âm thanh ấy hôm nào chả có? Nhưng hôm nay Chí mới nghe thấy bởi hôm nay Chí mới bừng tỉnh, mới thiết tha hướng về cuộc sống. Bát cháo hành Thị Nở đem đến làm Chí cảm động “Mắt ươn ướt nước” và “hắn cười thật hiền”. Rồi hắn muốn hướng về tương lai, một tương lai bình dị: mái ấm gia đình. Nước mắt, lại là nước mắt đàn ông, Nam Cao từng gọi đó là “lăng kính biến hình của vũ trụ”. Ta có cảm giác giọt nước mắt kia, nụ cười thật hiền trên môi Chí kia đã cuốn đi, đã xua tan quá khứ tối tăm, u ám của hắn. Có lẽ chính giọt nước mắt và nụ cười ấy của Chí Phèo Thị Nở đã có khi thầm nghĩ: “Có lúc hắn hiền như đất”. Rồi hắn nói với Thị Nở: “Cứ thế này mãi thì thích nhỉ… hay là mình sang ở với tớ một nhà cho vui”. Hắn khát khao muốn trở về thế giới người lương thiện: “Trời ơi hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao, Thị Nở sẽ mở đường cho hắn".
Chính những trang văn trên đã làm sáng bừng cho câu chuyện và sáng bừng lên quãng đời trôi nổi, tăm tối của Chí Phèo. Chưa khi nào từng cử chỉ, hành động, câu nói của anh khiến ta cảm động như thế. Chúng thể hiện một điều rằng: lần đầu tiên trong đời Chí Phèo gặp được lí tưởng, mục đích sống của đời mình. Nó nằm ở nơi người đàn xấu xí cả xã hội chê bai, xa lánh. Ước mơ giản dị, mong manh của hắn có thế làm bất kì ai cũng phải giật mình nhìn lại những gì mình đang có đế nâng niu và thấy trân trọng nó hon.
Nhưng bi kịch đời Chí chưa dừng lại ở đó, Thị Nở đã từ’ chối “lời cầu hôn” của hắn bởi bà cô Thị không cho phép cháu bà lấy một thằng “chỉ có độc một cái nghề rạch mặt ăn vạ”. Ta không trách bà cô Thị Nở, đó cũng là cách nhìn của những người trong xã hội đối với Chí Phèo. Tất cả đã coi hắn là con quỷ dữ không ai còn tin hắn, hắn đã bị cả xã hội cự tuyệt. Chí Phèo “ôm mặt khóc rưng rức”. Hắn rơi vào bi kịch tuyệt vọng muốn làm người mà không ai công nhận. Thế là hắn tìm đến rượu “hắn càng uống càng tỉnh” hắn cứ uống cho đến lúc say mềm lại vác dao vừa đi vừa chơi. Hắn giao tiếp với đời bằng tiếng chửi, còn đời trả lời hắn bằng tiếng chó sủa inh ỏi làng nước. Vậy là đã rõ, đời hắn đã đi vào hồi kết, kiếp hắn cũng chỉ là kiếp chó mà thôi. Mồm thì chửi cô cháu nhà Thị Nở nhưng chân thì đưa hắn đến nhà bá Kiến. Đoạn văn được Nam Cao mô tả vô cùng tinh tế và hợp lý. Lúc này, Chí Phèo vừa tỉnh lại vừa say, say để lẩm bẩm giết chết “con khọm già” nhà Thị Nở, tỉnh đế đến nhà bá Kiến đi theo thói quen của tiềm thức sâu xa như một tất yếu. Đến nhà bá Kiến Chí Phèo không xin tiền mà đòi “làm người lương thiện”. Rõ ràng, lúc này hắn đã thấm thìa tình trạng tuyệt vọng vô phương cứu chữa của đời mình. Hắn hét lên: “Ai cho tao lương thiện?”. Câu hỏi của Chí Phèo cũng là câu hỏi của thời đại. Chang ai trả lời hắn bởi đó là “Một câu hỏi lớn không lời đáp” đớn đau đến vô cùng. Câu hỏi làm người đọc như lên một niềm cảm thương sâu sắc đối với những kiếp người bất hạnh không biết đi đâu về đâu trong cái xã hội ngục tù tăm tối ấy. Tuyệt vọng, Chí lao vào đâm chết bá Kiến và tự kết thúc cuộc đời mình.
Để Chí Phèo chết Nam Cao đã thể hiện được nhiều ý tưởng sâu xa góp phần tạo nên giá trị hiện thực của tác phẩm. Chí Phèo chết đã trở thành một bản án tố cáo xã hội đương thời, một xã hội phi nhân nghĩa đã tước bỏ quyền sống quyền làm người của những người dân lương thiện. Chí chết cũng có nghĩa là anh ấy không chịu quay lại con đường lưu manh, không chịu sống kiếp sống con vật chuyên làm kẻ ác. Anh ấy thà chết chứ không chịu từ bỏ khát vọng hoàn lương. Đó là sự cảm thông và cũng là niềm tin của Nam Cao vào bản chất tốt đẹp của con người.
Khi miêu tả bi kịch trong số phận của Chí Phèo, Nam Cao đã đi sâu giải thích những nguyên nhân tạo nên một mạch của bi kịch ấy. Trong đó có nguyên nhân khách quan, xã hội nửa thực dân nửa phong kiến đã đấy con người vào vòng sa ngã. Cũng có nguyên nhân chủ quan với bản thân những người nông dân cùng cảnh ngộ lại quay lưng vào nhau, phủ nhận nhau, nhìn nhau bằng con mắt đầy định kiến, tiêu biểu là bà cô Thị Nở. Bị xua đuổi, đè nén, những người như Chí đến lúc này đã quay lại chống trả (dẫu sự chống trả vô cùng tiêu cực, nhưng họ còn biết làm gì hơn?) bằng con đường lưu manh. Hon nữa, Nam Cao còn nhắc đến Năm Thọ, Binh Chức với tư cách là những “vị tiền bối”, họ hàng gần xa với Chí Phèo. Kết thúc tác phẩm, Nam Cao để Thị Nở nhìn nhanh xuống cái bụng và thấp thoáng hình ảnh “cái lò gạch cũ” hiện ra vắng người qua lại. Rất có thể một Chí Phèo con sẽ ra đời để nối nghiệp bố. Hình tượng Chí Phèo được Nam Cao khắc hoạ thành công và khái quát thành quy luật bản chất của xã hội. Vậy muốn chấm dứt bi kịch của Chí Phèo cần phải tiêu diệt xã hội ấy đi. Đây chính là chiều sâu trong ngòi bút Nam Cao trong miêu tả hiện thực xã hội.
Để chọn một tác phẩm hay nhất phản ánh được tận cùng thân phận của người nông dân trong xã hội cũ thì không thể không nhắc đến tác phẩm Chí Phèo. Mới đầu người ta nghĩ nhân vật anh Pha trong “Bức đường cùng” của Nguyễn Công Hoan bị sưu thuế đè nặng và đẩy vào tình cảnh nghèo đói, không lối thoát. Rồi cho đến nhân vật chị Dậu người ta lại thấy tình cảnh người nông dân khổ sở thêm mức nữa bởi chị phải bán chó bán con để đóng sưu. Tưởng chừng không còn gì để khổ hơn thì Chí Phèo trong trang sách của Nam Cao ngật ngưỡng bước ra thì người ta mới cảm nhận thấy được đây mới là sự tận cùng của cái khổ. Chí Phèo bán cả nhân hình lẫn nhân tính của mình để nhận được cái kết là trở thành quỷ dữ của làng Vũ Đại. Nhân vật Chí Phèo chí là hiện thân đầy đủ nhất về nỗi khổ của người nông dân trong xã hội và khiến cho tác phẩm “Chí Phèo” vẫn còn sống đến tận bây giờ.
Có thể thấy được nhân vật Chí Phèo hiện lên với một nỗi bi kịch. Đó chính là bi kịch của một nông dân cùng khổ đã bị xô đẩy vào con đường lưu manh tội lỗi, Chí Phèo đã bị cự tuyệt quyền làm người. Nói một cách dễ hiểu thì số phận bi thảm của một con người muốn được làm người – đây là quyền ai cũng có cả thế nhưng với Chí Phèo lại không được như thế. Nhà văn Nam Cao thật tài tình khi đã viết về tấn bi kịch của nhân vật vô cùng sắc sảo. Thêm với đó thì luôn biết biến hóa lúc kể, lúc tả, có lúc thì triết lí thì thấm thía vô cùng trữ tình thì đau đớn xót xa đầy ám ảnh nghệ thuật. Đồng thời cũng đã lại làm xúc động lòng người hơn nửa thế kỷ nay.
Nhà văn Nam Cao dường như không nói về sưu thuế đã khiến con người có được những khám phá riêng về chính số phần của người lao động. Người lao động bị chà đạp và đồng thời họ cũng có một cái nhìn thật mới mẻ và cũng thật độc đáo, sâu sắc trong việc thể hiện nỗi đau khổ trăm chiều của người nông dân nghèo bị áp bức, bóc lột đến tàn tệ trong xã hội nửa thực dân, nửa phong kiến.
Xây dựng lên nhân vật Chí Phèo bất hạnh chính ngay từ khi sơ sinh theo lời kể của nhà văn Nam Cao “trần truồng và xám ngắt trong một cái váy đụp để bên cạnh lò gạch bỏ không”. Thế rồi có anh thả ống lươn thấy và đem cho một người đàn bà góa mù nuôi, sau đó Chí Phèo cũng lại bị đem bán cho bác phó cối. Chí Phèo – một anh nông dân lớn lên trong cảnh bơ vơ, không cha mẹ, không họ hàng thân thích, lại còn nghèo đến mức không một mái lều che thân cũng chẳng có lấy một tấc đất cắm dùi. Chí Phèo sống cứ hết đi ở cho nhà này lại đi ở cho nhà nọ cho đến năm 20 tuổi thì nhân vật Chí Phèo làm canh điền cho lí Kiến.
Nam Cao nói về trang đời thơ ấu vô cùng bất hạnh của Chí Phèo đó chính là khoảng thời gian 20 năm trời đắng cay. Chính tấn bi kịch của anh canh điền này bắt đầu từ câu chuyện bà Ba ông lí còn trẻ lắm mà bà Ba lại cứ “hay ốm lửng, bắt hắn bóp chân, hay xoa bụng, đấm lưng gì đấy”. Chí Phèo là người chứ không phải là gỗ đá, nhưng hắn thấy nhục hơn là thích, huống hồ lại sợ. Thế rồi xuất phát chỉ một chuyện ghen tuông không đau thôi mà Bá Kiến đã ngấm ngầm cấu kết với quan trên bắt Chí Phèo giải lên huyện, đồng thời cũng lại bỏ tù hắn bảy tám năm trời. Khi Chí Phèo ở nhà tù thực dân đã biến anh từ một nông dân lương thiện, hiền lành trở thành một tên lưu manh, trở thành một con quỷ dữ trong làng Vũ Đại.
Chí Phèo đi tù biệt tăm và rồi khi trở về thì trông ngoại hình của Chí đã khác hẳn. Câu văn miêu tả “Cái đầu thì trọc lóc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà rất câng câng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết. Chí mặc cái quần nái đen, cái áo tây vàng, cái ngực và cái tay chạm trổ rồng, phượng nói một ông tướng cầm chùy”... Tất cả đó là một hình ảnh của Chí Phèo, đã vậy Chí lại chuyên rạch mặt ăn vạ. Ra tù phải đến nhà Bá Kiến để hỏi tội và Chí Phèo đã hành động như một tên đầu bò vô cùng ngang ngược. Thế nhưng chỉ một bữa rượu thịt, một vài câu mơn trớn thêm với đó là một đồng bạc đãi thêm của cụ Bá đã làm cho Chí Phèo vô cùng hả hê và quên hết Bá Kiến đã đẩy mình vào tình trạng như thế.
Chưa hết, Bá Kiến hiểu được “Thứ nhất sợ kẻ anh hùng, thứ 2 sợ kẻ cố cùng liều thân” cho nên đã ngon ngọt nịnh Chí Phèo trở thành đầy tớ chân tay mới của Bá Kiến. Chí Phèo đã bán mình cho quỷ dữ cũng chẳng bao lâu hắn cũng trở thành một con quỷ dữ ghê tởm khiến ai ai cũng phải sợ. Chí như cứ triền miên, chìm ngập vào trong vũng bùn vô cùng tăm tối và tội lỗi với hơi rượu. Rượu đã làm cho Chí Phèo mất hết ý niệm về thời gian, tuổi tác, Chí không nhớ một điều gì nữa cả. Hình ảnh Chí Phèo hiện lên là một con vật lạ, trên mắt có đầy những vết rạch mặt dọc ngang thật ghê sợ. Chí Phèo đâm thuê chém mướn để kiếm tiền mà uống rượu, cứ những cơn say của Chí như cứ từ cơn say này sang cơn say khác. Chí đã bị mua chuộc, bị xô đẩy vào con đường lưu manh hóa bao nhiêu tội lỗi. “Hắn biết đâu hắn đã phá bao nhiêu cơ nghiệp, đập nát bao nhiêu cảnh yên vui, đạp đổ bao nhiêu hạnh phúc, làm chảy máu và nước mắt của bao nhiêu người lương thiện”.
Chí Phèo lúc này đây cũng đã bị cả xã hội ruồng bỏ, ngay cả cái thẻ có biên tên tuổi của Chí Phèo cũng không có trong sổ làng. Thế rồi chính người ta vẫn khai hắn vào hạng dân lưu tán đã rất lâu năm không về làng. Thực sự giờ đây mỗi khi hắn xuất hiện thì cả dân làng đều sợ hắn, thậm chí là còn tránh mặt hắn mỗi lần hắn qua. Chí Phèo chửi thì ai cũng nghĩ chắc “nó chừa mình ra”, tiếng chửi như xuất hiện ngay đầu câu chuyện khiến nó cứ ám ảnh về một con người nhưng lại bị cả xã hội không công nhận. Người ta giao tiếp với nhau bằng tiếng nói còn đối với Chí Phèo thì lại dùng tiếng chửi. Thế nhưng cũng không ai để ý đến Chí nữa, Chí Phèo như đã bị xã hội dứt khoát cự tuyệt không được nhìn nhận là người.
Thông qua nhân vật Chí Phèo, nhà văn Nam Cao đã phản ánh một hiện thực khá phổ biến đồng thời cũng có tính quy luật ở nông thôn nước ta dưới thời Pháp thuộc. Trong chế độ nửa thực dân, nửa phong kiến cũng có rất nhiều người lao động lương thiện bị xã hội xô đẩy vào chính con đường cùng, đã phản kháng lại, lưu manh liều mạng để tồn tại. Qua tác phẩm “Chí Phèo” nhà văn Nam Cao đã gửi gắm một điều đó chính là chừng nào còn bọn cường hào sâu mọt, nhẫn tâm, độc ác và áp bức bóc lột tàn tệ dân lành thì chừng đó chắc chắn sẽ còn người lao động lương thiện, hiền lành bị xô đẩy vào con đường lưu manh tội lỗi. Chính cái xã hội đó cũng đã lấy mất đi linh hồn của Chí Phèo, hủy diệt nhân tính, nhân hình của một anh nông dân chất phác. Nhà văn Nam Cao cũng đã cho thấy được quy luật bạo tàn, ghê sợ trong xã hội cũ.
Và rồi cho đến khi Chí Phèo gặp Thị Nở. Thị Nở được miêu tả là một người xấu đến ma chê quỷ hờn. Sau cuộc làm tình mang tính bản năng của Chí Phèo thì với sự chăm sóc cẩn thận của Thị Nở Chí Phèo lúc này cũng đã khiến cho Chí Phèo thay đổi. Sáng hôm sau, lần đầu tiên Chí Phèo tỉnh dậy trong cơn say triền miên tưởng không dứt. Chí Phèo bị cảm và Thị Nở đã chăm sóc cũng như nấu cho Chí một bát cháo hành. Cuộc đời Chí muốn ăn thì phải cướp, giành lấy chứ chưa bao giờ được ăn và lại được người khác mang cho như này. Chí Phèo – một con quỷ dữ của làng Vũ Đại ai ai cũng sợ hắn và duy chỉ có thị Nở mới nhận ra Chí Phèo sao mà hiền!
Chí Phèo tỉnh trong cơn say triền miên thì có những tiếng chim hót vui vẻ, tiếng người đi chợ cười nói có cả tiếng anh thuyền chèo gõ mái chèo đuổi cả... Tất cả những điều này đó chính là những tiếng quen thuộc ấy hôm nào chả có, nhưng hôm nay Chí mới nghe thấy rõ nhất, đó chính là tiếng của nhịp sống mà lâu nay Chí đã bỏ quên. Trong lòng Chí Phèo như cũng vô cùng buồn và mong muốn có thể làm hòa với mọi người, muốn trở thành người lương thiện. Bất giác Chí như nhớ về ước mơ bình dị bấy đó là ước mơ “có một gia đình nho nhỏ, chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải. Nuôi lợn làm vốn liếng, khá giả thì mua dăm ba sào ruộng”. Chí nhớ lắm và Chí lại lo sợ về cuộc đời, Thị Nở chính là người đã khiến cho Chí nhận ra được cuộc sống ý nghĩa.
Bằng con mắt tinh tế, thấu hiểu nhân vật nhà văn Nam Cao đã cho chúng ta thấy, Chí Phèo vốn là một người lao động cùng khổ lương thiện. Ở Chí thì cái bản tính của hẳn ngày thường bị lấp đi và được sự chăm sóc của thị Nở thì nay đã hồi sinh trở về. Thực sự đó cũng chính là một cái nhìn vô cùng sâu sắc cùng với tấm lòng xót thương đầy tình người của nhà văn đối với những kiếp người lương thiện mà bị xã hội xa lánh.
Khi mà linh hồn thức tỉnh, bản tính bị lấp đi dần dần lộ ra thì bỗng nhiên Chí Phèo bỗng thấy thèm lương thiện thế những định kiến xã hội – bà cô thị Nở cấm đoán đã khiến cho Chí không thể hoàn lương. Ở Chí Phèo vật vã trong cơn đau đớn tuyệt vọng và muốn “đâm chết con đĩ Nở kia, đâm chết cái con khọm già nhà nó”. Chí lại tìm đến rượu, và khác với những cơn say khác Chí rất tỉnh táo khi nhận ra được kẻ thù của mình chính là Bá Kiến. Chí xách dao đến nhà Bá Kiến để đòi lương thiện bằng cách đâm chết Bá Kiến sau đó cũng tự kết liễu đời mình. Khi ý thức về nhân phẩm đã trở về thì Chí Phèo không thể sống kiểu lưu manh, không thể làm quỷ dữ và không thể chấp nhận được kiếp sống như thú vật được nữa. Cái chết của Chí Phèo rất bi thảm, quằn quại trên vũng máu của mình. Anh chết trong tiếng kêu uất hận đau thương, ám ảnh vì anh chết ngay trên ngưỡng cửa về cuộc đời.
Nhân vật Chí Phèo là một nhân vật, một hiện tượng lưu manh hóa ở nông thôn mang tính chất điển hình. Ở nhân vật cũng đã lên án đanh thép cái xã hội tàn bạo đẩy người dân cày nghèo vào kiếp sống tối tăm thú vật, xã hội đó cũng đã cướp đi của họ cả bộ mặt, cả linh hồn người để trở thành quỷ dữ. Câu nói của Chí Phèo kết thúc chuyện thực sự ám ảnh, nó giống như một lời tố cáo đanh thép của nhà văn trước xã hội đầy bất công đã đẩy người nông dân vào mức đường cùng không lối thoát. “Ai cho tao lương thiện?”
Với tác phẩm “Chí Phèo” nhà văn đã viết lên một câu chuyện như vừa chứa chan tình cảm nhân đạo, đồng thời cũng lại mang ý nghĩa triết lí sâu sắc được thể hiện dưới hình thức nghệ thuật độc đáo. Tất cả từ hình thức đến nội dung của truyện đã đạt đến độ độc đáo, xứng đáng được coi là một kiệt tác văn học của dòng văn học hiện thực phê phán.
Quảng cáo
Bạn cần hỏi gì?
Câu hỏi hot cùng chủ đề
-
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
88872 -
Hỏi từ APP VIETJACK74204
-
57284
-
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
47921 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
41585 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
40163 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
38332 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
32600
