Quảng cáo
2 câu trả lời 22
Phong trào dân tộc dân chủ của giai cấp tư sản Việt Nam trong giai đoạn 1918–1930 là một bộ phận quan trọng của phong trào yêu nước chống Pháp, diễn ra trong bối cảnh cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp làm chuyển dịch sâu sắc cơ cấu giai cấp xã hội ở nước ta.
Dưới đây là bài phân tích chi tiết về phong trào này trên các phương diện: hoàn cảnh, lực lượng - khuynh hướng, các hoạt động tiêu biểu, tính chất, hạn chế và nguyên nhân thất bại.
1. Hoàn cảnh lịch sử
Chính sách khai thác thuộc địa lần thứ hai của Pháp (1919 - 1929): Thực dân Pháp đẩy mạnh đầu tư với quy mô lớn vào Đông Dương (đặc biệt là đồn điền cao su, khai mỏ, công nghiệp nhẹ và thương nghiệp) nhằm bù đắp những thiệt hại sau Chiến tranh thế giới thứ nhất.
Sự biến đổi về kinh tế - xã hội:
Nền kinh tế tư bản chủ nghĩa du nhập vào Việt Nam mạnh mẽ hơn, tạo điều kiện cho tư bản Pháp thao túng nhưng cũng làm xuất hiện tầng lớp tư sản dân tộc (những người kinh doanh xí nghiệp, hãng buôn, chủ đồn điền vừa và nhỏ) và tư sản mại bản (có quyền lợi gắn chặt với thực dân Pháp).
Giai cấp tư sản dân tộc Việt Nam lớn lên về số lượng nhưng thế lực kinh tế yếu ớt, bị tư bản Pháp và tư bản kiều ngoại chèn ép nặng nề. Do đó, họ có lòng yêu nước, tinh thần dân tộc chống thực dân Pháp để giành quyền lợi kinh tế, nhưng lại có thái độ nhút nhát, dễ thỏa hiệp.
2. Lực lượng, tổ chức và báo chí của giai cấp tư sản
Các tổ chức chính trị:
Giai cấp tư sản và tiểu tư sản trí thức ở Nam Kỳ đã thành lập các tổ chức chính trị như Đảng Lập hiến (1923) do Bùi Quang Chiểu lãnh đạo, tập hợp đông đảo giới tư sản, điền chủ và trí thức Nam Kỳ.
Ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ xuất hiện các nhóm chính trị yêu thương công thương gia như Đảng Thanh niên (Tôn Thọ̀ng), Việt Nam Quốc dân đảng (mặc dù thành phần cốt lõi là tiểu tư sản trí thức nhưng có ảnh hưởng nhất định từ tầng lớp tư sản cấp tiến ở giai đoạn đầu, tuy nhiên sau đó chuyển hẳn sang khuynh hướng cách mạng bạo lực tiểu tư sản).
Mặt trận báo chí và diễn đàn đấu tranh công khai:
Sử dụng báo chí làm vũ khí sắc bén để đấu tranh đòi quyền lợi kinh tế - chính trị: Các tờ báo nổi bật như La Tribune Indigène (Diễn đàn bản xứ), L’Annam, Tiếng chuông rè (của Nguyễn An Ninh ở Nam Kỳ), Hữu Thanh, Thực nghiệp dân báo (ở Bắc Kỳ).
3. Các hình thức và phong trào đấu tranh tiêu biểu
Phong trào của giai cấp tư sản trong giai đoạn này chủ yếu diễn ra theo khuynh hướng dân chủ tư sản cải lương, với các cuộc đấu tranh sôi nổi:
Đấu tranh kinh tế (phát động phong trào "chấn hưng nội hóa, bài trừ ngoại hóa"):
Vận động người Việt Nam dùng hàng nội địa, tẩy chay tư bản nước ngoài (đặc biệt là tư bản Hoa kiều đang nắm giữ các huyết mạch kinh tế lúc bấy giờ).
Thành lập các thương hội, công ty thương mại (như hãng buôn, xưởng cơ khí nhỏ) nhằm giành giật thị trường nội địa.
Đấu tranh nghị trường và vận động dân chủ cải cách:
Tổ chức các cuộc mít tinh, diễn thuyết, đưa ra các yêu sách về kinh tế và chính trị (đòi tự do kinh doanh, giảm thuế, tự do báo chí, tự do hội họp, cải thiện chế độ lao động).
Điển hình là chiến dịch vận động thả tự do cho nhà yêu nước Phan Bội Châu (1925) và để tang cụ Phan Chu Trinh (1926) do tầng lớp tiểu tư sản trí thức và tư sản phát động, thu hút đông đảo quần chúng tham gia.
4. Tính chất, hạn chế và nguyên nhân thất bại
a. Tính chất:
Tính chất dân tộc: Mang tinh thần yêu nước, chống lại sự chèn ép kinh tế của tư bản thực dân Pháp, bảo vệ quyền lợi kinh tế và tự tôn dân tộc của người Việt Nam.
Tính chất cải lương, thỏa hiệp: Mục tiêu đấu tranh chỉ dừng lại ở mức độ cải cách trong khuôn khổ luật pháp thuộc địa, nhằm đòi một số quyền lợi về kinh tế và dân sinh, dân chủ chứ chưa dám đặt ra nhiệm vụ lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp để giành độc lập hoàn toàn.
b. Hạn chế và nguyên nhân thất bại:
Yếu kém về kinh tế và lực lượng: Giai cấp tư sản Việt Nam non trẻ, nhỏ bé về số lượng, yếu về thế lực kinh tế, phụ thuộc ít nhiều vào tư bản Pháp nên dễ dao động.
Thiếu đường lối cách mạng triệt để: Không có hệ tư tưởng độc lập, không dám dựa vào quần chúng nhân dân (đặc biệt là nông dân – lực lượng đông đảo nhất) vì sợ phong tranh chấp giai cấp, sợ quần chúng nổi dậy tước đoạt tài sản.
Kết cục: Bị thực dân Pháp vừa đàn áp, vừa mua chuộc (cắt cử một số quyền lợi nhỏ cho nhóm tư sản mại bản hoặc thỏa hiệp với phái cải lương của Bùi Quang Chiểu). Đến cuối những năm 1920, khi phong trào cách mạng vô sản do Đảng Cộng sản lãnh đạo dâng cao với đỉnh điểm là Xô Viết - Nghệ Tĩnh, hệ thống tổ chức và ảnh hưởng của giai cấp tư sản gần như phá sản hoàn toàn và bất lực trước nhiệm vụ lịch sử của dân tộc.
5. Ý nghĩa lịch sử
Mặc dù thất bại và không giành được quyền lãnh đạo cách mạng, phong trào của giai cấp tư sản trong những năm 1918–1930 vẫn mang lại những giá trị lịch sử nhất định:
Góp phần thức tỉnh tinh thần dân tộc, cổ vũ lòng yêu nước trong các tầng lớp nhân dân đô thị.
Mở rộng không gian sinh hoạt chính trị công khai (qua báo chí, diễn đàn, hội họp).
Sự thất bại của khuynh hướng tư sản là bài học thực tiễn vô giá, chứng minh rằng ở Việt Nam, giai cấp tư sản không đủ khả năng lãnh đạo cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, từ đó đẩy nhanh quá trình sàng lọc lịch sử để nhường vai trò lãnh đạo lịch sử cho giai cấp công nhân thông qua chính đảng mác-xít (Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930).
Phong trào dân tộc dân chủ của giai cấp tư sản Việt Nam trong giai đoạn 1918–1930 là một bộ phận quan trọng của phong trào cách mạng Việt Nam thời kỳ chiến tranh thế giới thứ nhất đến khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Dưới đây là phân tích chi tiết về hoàn cảnh, các hoạt động tiêu biểu, tính chất, nguyên nhân thất bại và ý nghĩa lịch sử của phong trào này.
1. Hoàn cảnh lịch sử
Tác động từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919–1929): Thực dân Pháp đẩy mạnh đầu tư khai thác tài nguyên và bóc lột kinh tế ở Đông Dương. Điều này làm phân hóa xã hội sâu sắc, dẫn đến sự ra đời của giai cấp tư sản (tư sản mại bản và tư sản dân tộc) và tầng lớp tiểu tư sản.
Đặc điểm của giai cấp tư sản Việt Nam:
Ra đời muộn, bị thế lực tư bản Pháp và tư sản người Hoa chèn ép, kìm hãm nên thế lực kinh tế yếu kém.
Về chính trị: Có tinh thần dân tộc chống thực dân Pháp để giành quyền lợi kinh tế, nhưng do quyền lợi gắn liền với chế độ thuộc địa hoặc sợ hãi quần chúng nhân dân nên thái độ thường dao động, thỏa hiệp.
2. Các hoạt động và phong trào tiêu biểu
Trong giai đoạn này, giai cấp tư sản và tầng lớp trí thức tiểu tư sản (tiền thân của tư sản dân tộc) đã có nhiều hoạt động đấu tranh sôi nổi trên cả mặt trận kinh tế và chính trị:
a. Đấu tranh trên lĩnh vực kinh tế (1919–1926)
Khẩu hiệu: "Chấn hưng nội hóa", "Bài trừ ngoại hóa", "Dùng hàng nội địa".
Hoạt động cụ thể:
Thành lập các xí nghiệp, hãng buôn, công ty thương mại để cạnh tranh với tư bản nước ngoài (như hãng buôn của Bạch Thái Bưởi, công ty của Nguyễn An Ninh, v.v.).
Tẩy chay tư thương nước ngoài, đòi quyền tự do kinh doanh và tự chủ về kinh tế.
b. Đấu tranh trên lĩnh vực chính trị và báo chí (1923–1926)
Phong trào yêu nước công khai:
Cuộc đấu tranh đòi thả tự do cho nhà yêu nước Phan Bội Châu (1925).
Lễ truy điệu nhà yêu nước Phan Châu Trinh (1926) thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia.
Báo chí tiến bộ: Xuất bản nhiều tờ báo tiến bộ để tuyên truyền tư tưởng yêu nước và đấu tranh nghị trường, như báo Tiếng Dân (của Huỳnh Thúc Kháng), An Nam trẻ, Hữu Thanh, v.v.
Sự ra đời của chính đảng:
Năm 1923, nhóm người Việt Nam yêu nước tại Nam Kỳ thành lập Đảng Lập hiến (do Bùi Quang Chiêu đứng đầu), quy tụ tầng lớp tư sản và trí thức giàu có, chủ trương đấu tranh ôn hòa, thỏa hiệp với Pháp để đòi một số quyền lợi về kinh tế và dân chủ.
Đến năm 1927, Việt Nam Quốc dân Đảng ra đời (do Nguyễn Thái Học lãnh đạo) – đây là chính đảng đại diện cho xu hướng cách mạng tư sản bạo động, tổ chức và lôi kéo cả tiểu tư sản, binh lính và tư sản yêu nước. Tuy nhiên, đảng này đã suy yếu và bị dập tắt sau Khởi nghĩa Yên Bái (1930).
3. Tính chất, đặc điểm của phong trào
Tính dân tộc: Mang nặng tư tưởng yêu nước, chống thực dân Pháp để đòi quyền tự chủ kinh tế, tự do dân chủ cho dân tộc và giai cấp mình.
Tính cải lương, thỏa hiệp: Phần lớn phong trào của tư sản dân tộc (tiêu biểu như Đảng Lập hiến) mang tính chất cải lương, ôn hòa, nặng về thương lượng với thực dân Pháp hơn là dựa vào sức mạnh của quần chúng.
Sự phân hóa rõ rệt:
Tư sản mại bản: Quyền lợi gắn liền với thực dân Pháp, đứng hẳn về phía kẻ thù.
Tư sản dân tộc: Có tinh thần chống Pháp nhưng yếu đuối, dễ dao động. Khi phong trào cách mạng của quần chúng (công nông) dâng cao, họ thường hoảng sợ và ngả về phía Pháp hoặc đứng ngoài cuộc.
4. Nguyên nhân thất bại
Về mặt khách quan: Thực dân Pháp lúc bấy giờ vẫn còn mạnh, dùng cả bộ máy bạo lực đàn áp khốc liệt kết hợp với thủ đoạn lôi kéo, mua chuộc.
Về mặt chủ quan:
Giai cấp tư sản Việt Nam non kém về kinh tế, thiếu đường lối chính trị độc lập, triệt để và khoa học.
Sợ hãi lực lượng quần chúng nhân dân (công nông), không dám dựa vào quần chúng để làm cách mạng đến cùng.
Thiếu một tổ chức lãnh đạo vững vàng, rộng khắp và có tầm nhìn chiến lược.
5. Ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm
Ý nghĩa:
Góp phần thức tỉnh tinh thần yêu nước, truyền bá tư tưởng dân chủ tư sản vào Việt Nam.
Làm phong phú thêm kho tàng kinh nghiệm đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc trong những năm đầu thế kỷ XX.
Bài học kinh nghiệm: Sự thất bại của phong trào tư sản chứng minh rằng giai cấp tư sản không đủ khả năng lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành độc lập thực sự. Nhiệm vụ lịch sử đó đòi hỏi phải đặt lên vai một giai cấp tiên tiến hơn – giai cấp công nhân với đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam (ra đời năm 1930).
Tham khảo:Gemini
Quảng cáo
Bạn cần hỏi gì?
Câu hỏi hot cùng chủ đề
-
253971
-
81006
-
Hỏi từ APP VIETJACK54640
-
48637
-
45326
