Nêu cảm nhận của em về một bài thơ đường luật mà em yêu thích
Quảng cáo
2 câu trả lời 44
1. Bức tranh thu trong trẻo, tĩnh lặng và đượm buồn
Thu điếu thu hút em ngay từ những câu thơ mở đầu bởi bức tranh cảnh vật mùa thu làng quê Bắc Bộ hiện lên quá đỗi nên thơ, bình dị nhưng cũng thanh sơ, thoát tục:
"Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẹo teo.
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo."
Bằng nghệ thuật gieo vần "eo" (tử vần) đầy tài tình, tác giả đã thu nhỏ không gian, tạo nên sự co thắt đặc biệt: từ cái "ao thu" tĩnh lặng, đến chiếc "thuyền câu" nhỏ nhắn, rồi từng đợt "sóng biếc" chỉ lăn tăn "hơi gợn tí". Cảnh vật trong trẻo đến mức người đọc dường như có thể nhìn thấu tận đáy nước "trong veo". Sự xuất hiện của vệt "lá vàng trước gió khẽ đưa vèo" không chỉ khắc họa sắc màu đặc trưng của mùa thu mà còn gợi lên sự chuyển động cực nhẹ, lấy động để tả cái tĩnh lặng tuyệt đối của không gian.
Cảnh thu tiếp tục được mở rộng về chiều cao và chiều sâu ở hai câu thực:
"Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo."
Màu "xanh ngắt" của bầu trời mùa thu gợi lên chiều cao thăm thẳm, kết hợp với hình ảnh "ngõ trúc quanh co" hun hút, không một bóng người ("vắng teo") làm cho bức tranh thiên nhiên càng thêm trống trải, đượm một nỗi buồn hiếu quạnh.
2. Nỗi lòng u hoài và tâm hồn thanh cao của người sĩ phu yêu nước
Nếu sáu câu thơ đầu vẽ nên bức tranh thiên nhiên thu tuyệt đẹp thì hai câu kết mới chính là nơi đọng lại thần thái và tâm sự sâu kín của nhân vật trữ tình:
"Tựa gối buông cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân beo."
Tư thế "tựa gối buông cần" cho thấy nhà thơ ngồi câu cá nhưng tâm trí dường như không đặt vào việc đánh bắt. Ông ngồi tĩnh lặng đến mức tưởng như hóa đá giữa không gian, để rồi một tiếng "cá đớp động dưới chân beo" bất chợt vang lên cũng đủ làm người giật mình bừng tỉnh. Tiếng động nhỏ ấy không làm mất đi sự yên tĩnh mà càng làm đậm thêm cái tĩnh lặng trong tâm hồn nhà thơ.
Qua hình ảnh người ngồi câu cá, em cảm nhận được nỗi đau thầm kín của một vị quan thanh liêm nhưng bất lực trước thời cuộc. Nguyễn Khuyến cáo quan về ở ẩn không phải để tận hưởng sự nhàn nhã cá nhân, mà vì ông giữ vẹn nhân cách, không muốn hợp tác với chính quyền thuộc địa. Nỗi buồn thu cũng chính là nỗi buồn thế sự, là tấm lòng yêu nước u hoài, thầm lặng nhưng sâu sắc của một sĩ phu kiên trung.
3. Dấu ấn nghệ thuật Đường luật độc đáo
Điều làm em vô cùng thán phục bài thơ này chính là sự làm chủ đỉnh cao thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật của Nguyễn Khuyến:
Tính chuẩn mực và sáng tạo: Tác giả tuân thủ nghiêm ngặt quy luật niêm, luật, đối của thơ Đường nhưng lại dùng ngôn từ tiếng Việt (chữ Nôm) cực kỳ tự nhiên, bình dị, không hề khiên cưỡng.
Nghệ thuật lấy động tả tĩnh: Tiếng cá đớp mồi, chiếc lá chao nghiêng... càng tôn lên sự tịch mịch của không gian và tâm trạng.
Bút pháp tả cảnh ngụ tình: Cảnh thu và tình thu hòa quyện làm một, tạo nên một chỉnh thể nghệ thuật hoàn hảo.
Lời kết
Bài thơ Thu điếu của Nguyễn Khuyến không chỉ đơn thuần là một bài thơ tả cảnh mùa thu đẹp bậc nhất trong thi phẩm Việt Nam, mà còn là bức chân dung tâm hồn của một nhân cách lớn. Đọc bài thơ, em không chỉ thêm yêu nét đẹp bình dị, cổ kính của làng quê Việt Nam mà còn biết trân trọng tâm hồn nhạy cảm, tấm lòng yêu nước thầm lặng nhưng thanh cao của bậc tiền nhân.
Văn học trung đại Việt Nam từng ghi dấu ấn với vô số tác phẩm viết theo thể thơ Đường luật nghiêm ngặt. Nhưng giữa một rừng thơ mang đậm tính ước lệ, sùng cổ hay triết lý cao siêu, bài thơ "Thương vợ" của nhà thơ Trần Tế Xương (Tú Xương) vẫn hiện lên như một kiệt tác bình dị, độc đáo và giàu sức lay động nhất. Tác phẩm không chỉ bộc lộ nét tài hoa trong nghệ thuật thơ Nôm Đường luật mà còn đọng lại trong lòng người đọc niềm cảm thương sâu sắc cùng bài học vô giá về tình nghĩa vợ chồng.
Mở đầu bài thơ, tác giả đã tái hiện một cách chân thực và chua xót hoàn cảnh mưu sinh vất vả của bà Tú:
"Quanh năm buôn bán ở mom sông, Nuôi đủ năm con với một chồng."
Câu thơ mở ra một không gian làm việc đầy bất trắc – "mom sông", nơi chông chênh, nguy hiểm luôn rình rập. Thời gian "quanh năm" gợi tả chuỗi ngày đằng đẵng, khép kín, không một ngày nghỉ ngơi của người phụ nữ tảo tần. Nhịp thơ và cách ngắt ngớ ở câu thứ hai "Nuôi đủ năm con với một chồng" mang giọng điệu tự trào vừa xót xa vừa hóm hỉnh. Từ "đủ" đã làm nổi bật vai trò gánh vác, tháo vát của bà Tú khi phải nuôi cả một gia đình đông đúc, trong đó người chồng – ông Tú – lại xếp ngang hàng với những đứa con nhỏ, trở thành một "gánh nặng" mà người vợ phải nương tựa và nuôi dưỡng.
Đến hai câu thực, bức chân dung lao động nhọc nhằn của người vợ được tác giả khắc họa thông qua sự kết hợp tinh tế giữa ngôn ngữ bác học và chất liệu ca dao dân gian:
"Lặn lội thân cò khi quãng vắng, Eo xèo mặt nước buổi đò đông."
Hình ảnh "thân cò" gợi nhắc đến những câu ca dao cay đắng về kiếp người nhỏ bé, lội suối trèo đèo. Từ láy "lặn lội" được đảo lên đầu câu kết hợp với không gian "quãng vắng" làm tăng thêm cảm giác cô đơn, nguy hiểm của bà Tú giữa đêm muộn sớm khuya. Trong khi đó, cụm từ "eo xèo mặt nước buổi đò đông" lại gợi lên khung cảnh chen chúc, bươn chải, tranh giành từng miếng ăn giữa chợ đời nhộn nháo. Hai câu thơ đối nhau chằn chặn, lột tả trọn vẹn sự bận rộn, vất vả, đối mặt với cả sự cô quạnh lẫn chốn xô đẩy để lo cho bữa ăn gia đình.
Hai câu luận chuyển sang khắc họa vẻ đẹp tâm hồn cao quý của bà Tú – người phụ nữ Việt Nam truyền thống với đức hy sinh thầm lặng:
"Một duyên, hai nợ, âu đành phận, Năm nắng, mười mưa, dám quản công."
Bằng việc sử dụng các thành ngữ dân gian được tăng cấp ("một duyên hai nợ", "năm nắng mười mưa"), tác giả đã khái quát hóa những gian lao, thử thách mà vợ mình phải chịu đựng. Tuy nhiên, đáp lại những vất vả ấy không phải là tiếng than vãn, trách móc mà lại là sự nhẫn nại, coi đó là "duyên nợ" ở đời và chấp nhận "âu đành phận", "dám quản công". Sự hy sinh vô điều kiện ấy càng làm nổi bật phẩm chất kiên cường, giàu tình nghĩa của người phụ nữ Á Đông.
Khép lại bài thơ là tiếng chửi đời và tiếng tự mắng mình đầy đau đớn, bất lực của ông Tú:
"Cha mẹ thói đời ăn ở bạc, Có chồng mà hững hững như không!"
Lời thơ bùng nổ như một tiếng thở dài căm phẫn. "Cha mẹ thói đời" là tiếng chửi hướng vào cái xã hội phong kiến thực dân đương thời – cái xã hội đã biến những nhà nho như ông Tú thành kẻ vô tích sự, không thể giúp gì cho gia đình. Đồng thời, câu kết "Có chồng mà hững hững như không" là lời tự nghiêm khắc phê phán bản thân. Ông Tú tự nhận mình là người chồng bất tài, vô dụng, để mặc vợ gánh vác cuộc sống một mình. Tiếng tự mắng ấy không làm giảm đi giá trị của ông Tú, mà ngược lại, càng cho thấy ông là một người chồng có tâm hồn nhạy cảm, giàu lòng nhân ái, biết trân trọng và biết ơn sâu sắc người vợ hiền.
Bài thơ "Thương vợ" đạt đến đỉnh cao của thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật nhờ sự kết hợp tài tình giữa niêm luật chặt chẽ của thơ Đường với ngôn ngữ Nôm bình dị, ca dao, tục ngữ dân gian. Giọng thơ là sự hòa quyện giữa trào phúng tự chế giễu và trữ tình đằm thắm. Tác phẩm không chỉ tạc nên một bức tượng đài bằng thơ về người phụ nữ Việt Nam tần tảo, giàu đức hy sinh mà còn thể hiện một nhân cách lớn – một người chồng biết nhìn lại mình, biết thương và trọng vợ bằng tất cả tấm lòng. Qua nhiều thế hệ, "Thương vợ" vẫn mãi là bài thơ Đường luật xuất sắc, gieo vào lòng người đọc những rung động sâu xa về tình nghĩa gia đình.
Quảng cáo
Bạn cần hỏi gì?
Câu hỏi hot cùng chủ đề
-
12672
-
8078
-
7138
-
4674
-
Đã trả lời bởi chuyên gia
4030 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
3367
