Quảng cáo
4 câu trả lời 78
Bài văn tham khảo:
Hữu Thỉnh là một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ. Thơ ông mang tiếng nói của một con người gắn bó sâu sắc với làng quê, luôn nhẹ nhàng, tinh tế và giàu chất suy tư. Một trong những tác phẩm hay nhất của ông là bài thơ Sang thu. Bài thơ không chỉ là bức tranh thiên nhiên tuyệt mỹ lúc giao mùa mà còn ẩn chứa những triết lý nhân sinh sâu sắc về đời người. Điều đó được thể hiện rõ nét qua hai khổ thơ đầu của tác phẩm:
"Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se
Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về.
Sông được lúc dềnh dàng
Chim bắt đầu vội vã
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu."
Nếu như các thi sĩ xưa thường đón mùa thu bằng sắc vàng của lá ("Rặng liễu điu hiu đứng chịu tang / Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng" – Xuân Diệu), hay bằng sắc nước trong veo ("Ao thu lạnh lẽo nước trong veo" – Nguyễn Khuyến), thì Hữu Thỉnh lại đón thu bằng những tín hiệu vô cùng bình dị, mộc mạc của làng quê Bắc Bộ:
"Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se
Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về."
Tín hiệu đầu tiên khiến tâm hồn nhà thơ xao động là "hương ổi". Đó là thứ mùi hương nồng đượm, quen thuộc của vườn tược quê nhà vào cuối hạ đầu thu. Động từ "phả" được dùng rất đắt, gợi tả một làn hương đậm, sánh, như sánh lại để trộn lẫn vào làn "gió se" – cái gió heo may nhè nhẹ, se lạnh đặc trưng của mùa thu miền Bắc. Không chỉ cảm nhận bằng khứu giác, xúc giác, nhà thơ còn đón nhận mùa thu bằng thị giác qua hình ảnh "Sương chùng chình qua ngõ". Từ láy "chùng chình" gợi tả bước đi chậm chạp, ngập ngừng, như cố ý chậm lại của làn sương mềm mại nơi đường thôn ngõ xóm. Sương như có tâm hồn, có ý vị, cứ lưu luyến nửa muốn đi nửa muốn ở.
Trước những chuyển biến âm thầm mà tinh tế ấy của đất trời, nhà thơ không khỏi ngỡ ngàng: "Bỗng nhận ra..." rồi tự vấn "Hình như thu đã về.". Từ "bỗng" diễn tả sự đột ngột, một cái giật mình sực tỉnh. Còn phó từ "hình như" lại thể hiện một tâm trạng mơ hồ, một sự hoài nghi nhẹ nhàng. Thu đến tự nhiên nhưng lại quá đỗi khẽ khàng khiến cho người nghệ sĩ có phần bảng lảng, chưa dám khẳng định chắc chắn, tạo nên một cái tôi đầy tinh tế và nhạy cảm.
Sau những ngỡ ngàng ban đầu, không gian nghệ thuật của bức tranh sang thu tiếp tục được mở rộng ra nhiều chiều kích ở khổ thơ thứ hai:
"Sông được lúc dềnh dàng
Chim bắt đầu vội vã
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu."
Đất trời không còn bó hẹp trong không gian tĩnh lặng của "ngõ" nữa mà mở ra với dòng sông, bầu trời, cánh chim. Bằng nghệ thuật đối lập kết hợp với các từ láy giàu giá trị biểu cảm, Hữu Thỉnh đã khắc họa hai trạng thái hoàn toàn trái ngược của vạn vật. "Sông được lúc dềnh dàng" – dòng sông mùa thu không còn cuồn cuộn, dữ dội như những ngày mưa lũ mùa hạ mà trở nên êm đềm, lững lờ trôi như đang suy tư, ngẫm ngợi. Trái lại, những cánh chim lại "bắt đầu vội vã" bay về phương Nam tránh rét, chúng phải khẩn trương hơn vì cái lạnh đang cận kề.
Nhưng có lẽ, đỉnh cao của sự liên tưởng độc đáo trong đoạn thơ chính là hai câu thơ: "Có đám mây mùa hạ / Vắt nửa mình sang thu". Đám mây được nhân hóa bằng động từ "vắt", như một dải lụa mềm mại nối hai bờ thời gian giữa hạ và thu. Đám mây ấy chưa hoàn toàn là thu, nhưng cũng không còn nguyên vẹn là hạ. Nó đứng ở ranh giới của sự chuyển giao, mang cái tinh nghịch, duyên dáng của một tâm hồn yêu thiên nhiên tha thiết. Hình ảnh này cho thấy khả năng quan sát và tài năng tạo hình xuất sắc của Hữu Thỉnh.
Hai khổ thơ đầu của bài thơ Sang thu đã thể hiện một nghệ thuật viết thơ vô cùng điêu luyện. Thể thơ năm chữ ngắn gọn, nhịp điệu uyển chuyển lúc chậm rãi, lúc khẩn trương. Các biện pháp tu từ như nhân hóa, đối lập được sử dụng tự nhiên, kết hợp với các từ láy gợi hình, gợi cảm đã làm nổi bật linh hồn của cảnh vật buổi giao mùa. Qua bức tranh thiên nhiên ấy, người đọc còn cảm nhận được một tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống quê hương sâu sắc cùng một tâm hồn nhạy cảm, tinh tế của nhà thơ Hữu Thỉnh.
Tóm lại, hai khổ thơ trên là những nét vẽ tuyệt vời về khoảnh khắc giao mùa của đất trời. Đọc đoạn thơ, ta không chỉ thấy một mùa thu đẹp của xứ sở mà còn học được cách lắng nghe, cách trân trọng những chuyển biến khẽ khàng của cuộc sống quanh mình. Khổ thơ sẽ luôn để lại dư âm nhẹ nhàng trong lòng bao thế hệ độc giả về một sắc thu rất riêng – sắc thu Hữu Thỉnh.
Thời gian luôn là một dòng chảy bất tận, cuốn đi tất cả nhưng cũng chính thời gian đã khơi nguồn cho biết bao tâm hồn nghệ sĩ bắt nhịp với vũ trụ. Trong số các mùa của năm, có lẽ mùa thu là mùa mang lại nhiều xúc cảm nhất cho thi nhân. Nếu như Nguyễn Khuyến ngắm một mùa thu tĩnh lặng, trong trẻo nơi làng quê với "tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt", Xuân Diệu ngỡ ngàng trước sắc vàng của áo mơ phai, thì Hữu Thỉnh lại chọn cho mình một lối đi riêng rất tinh tế khi bắt khoảnh khắc đất trời chớm sang thu. Bài thơ Sang thu trích trong Ngữ văn 9 tập 2 của Nhà xuất bản Giáo dục chính là một bức tranh thơ tuyệt mỹ về thời khắc giao mùa ấy. Trong đó, hai khổ thơ đầu của tác phẩm đã ghi lại một cách trọn vẹn và sống động những rung cảm tinh vi của hồn thơ Hữu Thỉnh trước những chuyển biến âm thầm, nhẹ nhàng của thiên nhiên từ cuối hạ sang đầu thu.
Mở đầu bài thơ, tác giả không đón thu bằng những hình ảnh ước lệ rực rỡ thường thấy trong thi ca cổ điển mà bắt đầu bằng một sự giật mình, ngỡ ngàng trước những tín hiệu vô cùng bình dị, quen thuộc của làng quê Bắc Bộ. Nhà văn viết rằng bỗng nhận ra hương ổi, phả vào trong gió se, sương chùng chình qua ngõ, hình như thu đã về. Từ "bỗng" được đặt ngay đầu bài thơ thể hiện một tâm trạng ngạc nhiên, một sự phát hiện đột ngột và bất ngờ của tác giả. Tín hiệu đầu tiên gọi mùa thu về không phải là hoa cúc vàng, không phải là lá ngô đồng rụng, mà lại là "hương ổi". Đây là một sáng tạo nghệ thuật rất độc đáo và đậm chất nông thôn của Hữu Thỉnh. Hương ổi chín nồng nàn, thơm nức của những ngày cuối hạ được động từ "phả" nhấn mạnh, gợi tả một luồng hương thơm đậm đặc, sánh quyện, đang chủ động len lỏi và lan tỏa vào không gian. Hương thơm ấy không bay đi nhẹ nhàng mà như có hình, có khối, được làn "gió se" – thứ gió heo may đặc trưng của mùa thu, se se lạnh và khô ráo – đưa đi khắp xóm làng.
Không chỉ cảm nhận mùa thu bằng khứu giác và xúc giác, nhà văn còn hướng đôi mắt để nhìn ngắm bước đi của mùa thu qua thị giác. Hình ảnh "sương chùng chình qua ngõ" là một nét vẽ vô cùng xuất thần. Phép nhân hóa qua từ láy "chùng chình" đã biến làn sương bảng lảng của buổi sớm đầu thu thành một sinh thể có linh hồn, có tâm trạng. Làn sương ấy như đang cố ý đi chậm lại, nửa muốn đi, nửa muốn ở, lưu luyến và ngập ngừng khi bước qua những con ngõ nhỏ của làng quê, hay cũng chính là ngõ cửa của thời gian giao mùa. Trước chuỗi những tín hiệu thiên nhiên vừa mơ hồ vừa hiển hiện ấy, thi sĩ đã khép lại khổ thơ bằng một sự hoài nghi đầy thú vị thông qua cụm từ "hình như thu đã về". Thành phần tình thái "hình như" diễn tả một tâm trạng chưa hoàn toàn chắc chắn, một cái giật mình mơ màng của cái tôi trữ tình. Thu đến nhẹ nhàng quá, mờ ảo quá, khiến nhà thơ dù đã cảm nhận được bằng mọi giác quan nhưng vẫn phải tự hỏi lòng mình xem có phải thu thực sự đã gõ cửa hay chưa.
Sau những ngỡ ngàng, bối rối ở khổ thơ thứ nhất, đến khổ thơ thứ hai, không gian nghệ thuật của bài thơ được mở rộng cả về chiều cao, chiều rộng và chiều sâu. Tâm trạng của nhà thơ lúc này đã chuyển từ sự nghi ngờ, đoán định sang cái nhìn thấu suốt, say mê trước cảnh vật đất trời đã mang những nét hình rõ rệt của mùa thu. Tác giả viết sông được lúc dềnh dàng, chim bắt đầu vội vã, có đám mây mùa hạ, vắt nửa mình sang thu. Cảnh vật lúc này được đặt trong thế đối lập rất hài hòa và đậm chất hội họa. Dòng sông quê hương không còn cuồn cuộn, dữ dội với những dòng nước lũ của ngày hè nữa, mà khi bước vào thu, nó "được lúc dềnh dàng". Từ láy "dềnh dàng" gợi tả một dòng chảy êm đềm, lững lờ, chậm rãi như đang ngẫm nghĩ, suy tư về những tháng ngày đã qua. Ngược lại với sự thư thái của dòng sông là trạng thái của đàn chim trời khi chúng "bắt đầu vội vã". Cái vội vã của những cánh chim đầu thu là cái vội vã sinh học, chúng phải bắt đầu chuẩn bị cho những chuyến bay tránh rét khi mùa đông sắp tới. Từ "bắt đầu" cho thấy sự vội vã này mới chỉ là những tín hiệu đầu tiên, chưa đến mức cuống quýt, tất bật, mọi thứ vẫn nằm trong tầm kiểm soát của sự bình yên.
Đỉnh cao của nghệ thuật miêu tả và sức tưởng tượng phong phú của Hữu Thỉnh trong khổ thơ này nằm ở hai câu thơ cuối, khi ông tạo nên một hình ảnh vô cùng lãng mạn và giàu chất trữ tình, đó là có đám mây mùa hạ vắt nửa mình sang thu. Đám mây trên bầu trời được nhà thơ quan sát bằng con mắt của một người nghệ sĩ tài hoa. Đám mây ấy không thuộc hẳn về mùa hạ khát khao, cũng chưa thuộc trọn vẹn về mùa thu dịu mát, mà nó nằm ngay ở ranh giới của sự giao thời. Từ "vắt" là một nhãn tự, một động từ có tính tạo hình rất cao, gợi tả một làn mây mỏng, nhẹ, kéo dài trên bầu trời như một dải lụa mềm mại nối liền hai bờ không gian của hai mùa. Hình ảnh "vắt nửa mình" vừa thực lại vừa mơ, cho thấy bước đi của thời gian vốn vô hình nay đã trở nên có hình khối, có thể nhìn thấy và cảm nhận được. Sự chuyển mình của đám mây cũng chính là sự chuyển mình của tâm hồn con người khi đứng trước ngưỡng cửa của thời gian, có chút gì đó tiếc nuối những rực rỡ của mùa hạ cũ nhưng cũng tràn đầy niềm mong đợi vào cái tĩnh lặng, sâu lắng của mùa thu mới.
Hai khổ thơ đầu của bài thơ Sang thu đã thể hiện một cách trọn vẹn tài năng nghệ thuật độc đáo của Hữu Thỉnh trong việc sử dụng ngôn từ và xây dựng hình ảnh. Bằng việc kết hợp nhuần nhuyễn các biện pháp tu từ như nhân hóa, đối lập cùng với hệ thống từ láy gợi hình, gợi cảm cao như "chùng chình", "dềnh dàng", "vội vã", nhà thơ đã tạo nên một bức tranh thiên nhiên giao mùa vô cùng tinh tế và giàu chất thơ. Đặc biệt, thể thơ năm chữ ngắn gọn, nhịp điệu thơ linh hoạt, lúc trầm lắng lúc nhịp nhàng đã góp phần diễn tả xuất sắc những chuyển biến âm thầm của đất trời và những rung động sâu xa trong lòng người. Qua hai khổ thơ, người đọc không chỉ thấy một thiên nhiên sang thu tươi đẹp mà còn cảm nhận được một cái tôi trữ tình có tâm hồn nhạy cảm, tinh tế, một tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống thiết tha, nồng hậu của nhà thơ Hữu Thỉnh.
Tóm lại, hai khổ thơ đầu của tác phẩm Sang thu là một nốt nhạc nhẹ nhàng nhưng đầy lắng đọng trong bản hợp xướng về mùa thu của văn học Việt Nam. Qua những trang thơ của Hữu Thỉnh, người đọc như được chậm lại một nhịp để lắng nghe tiếng lòng của thiên nhiên, để nhận ra rằng cái đẹp đôi khi không ở đâu xa xôi mà nằm ngay trong những điều bình dị nhất xung quanh cuộc sống thường nhật. Tác phẩm không chỉ mang lại giá trị thẩm mỹ cao mà còn khơi dậy trong lòng mỗi chúng ta tình yêu đối với quê hương, đất nước, đối với từng mùa thay lá của giang sơn. Thời gian có thể trôi đi, những mùa thu mới sẽ lại đến, nhưng những vần thơ chớm thu tinh khôi và đầy chất trữ tình của Hữu Thỉnh sẽ mãi là một biểu tượng đẹp, sống mãi trong lòng các thế hệ độc giả yêu thơ.
Bài văn nghị luận về cảm nhận hai đoạn thơ trong bài "Sang thu" của Hữu Thỉnh.
Bài thơ "Sang thu" của nhà thơ Hữu Thỉnh là một tác phẩm nổi bật, thể hiện những cảm xúc tinh tế và sâu sắc về mùa thu. Hai đoạn thơ trong bài không chỉ miêu tả vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn gợi lên những suy tư về cuộc sống và con người.
Đoạn thơ đầu tiên mở ra bức tranh thiên nhiên khi mùa thu đến. Hình ảnh "sương khói" và "dòng sông dềnh dàng" tạo nên một không gian êm dịu, thanh bình. Dòng sông không còn vội vã như những ngày hè, mà chảy nhẹ nhàng, thư thái, phản ánh tâm trạng của con người khi giao mùa. Cảm giác này khiến người đọc cảm nhận được sự chuyển mình của thiên nhiên, đồng thời cũng là sự lắng đọng trong tâm hồn. Hình ảnh "sương khói" không chỉ là biểu tượng của mùa thu mà còn là biểu tượng cho những kỷ niệm, những suy tư về cuộc sống, về thời gian trôi qua
Tiếp theo, đoạn thơ thứ hai mang đến những hình ảnh đối lập nhưng cũng rất hài hòa. Hình ảnh "chim bắt đầu vội vã" bay về phương Nam tránh rét thể hiện sự khẩn trương, tất bật của cuộc sống. Trong khi dòng sông "dềnh dàng" lại mang đến cảm giác bình yên, tĩnh lặng. Sự đối lập này không chỉ thể hiện sự chuyển giao giữa các mùa mà còn phản ánh tâm trạng con người trước những biến đổi của cuộc sống. Qua đó, Hữu Thỉnh khéo léo gửi gắm thông điệp về việc con người cần biết trân trọng những khoảnh khắc bình yên, dù cuộc sống có nhiều bộn bề
Tóm lại, hai đoạn thơ trong "Sang thu" không chỉ là những hình ảnh đẹp về thiên nhiên mà còn là những suy tư sâu sắc về cuộc sống. Hữu Thỉnh đã khéo léo kết hợp giữa thiên nhiên và tâm trạng con người, tạo nên một tác phẩm vừa giàu hình ảnh, vừa sâu sắc về ý nghĩa. Qua đó, người đọc không chỉ cảm nhận được vẻ đẹp của mùa thu mà còn thấy được những giá trị nhân văn trong cuộc sống hàng ngày
Quảng cáo
Bạn cần hỏi gì?
Câu hỏi hot cùng chủ đề
-
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
77073 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
65652 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
58965 -
56812
-
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
43946 -
43033
-
Đã trả lời bởi chuyên gia
42294 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
36068
