Thời kì Bắc thuộc nhân dân ta đã tiếp thu có chọn lọc văn hoá Trung Hoa như thế nào?
Những phong tục tập quán nào vẫn còn giữ gìn đến ngày nay?
Quảng cáo
6 câu trả lời 233
Trong thời kì Bắc thuộc (từ thế kỉ II TCN đến thế kỉ X), nhân dân ta vừa bị đô hộ vừa không ngừng đấu tranh bảo vệ bản sắc dân tộc. Trong quá trình đó, người Việt đã tiếp thu có chọn lọc văn hoá Trung Hoa, nghĩa là chỉ học những yếu tố tiến bộ, phù hợp, đồng thời kiên quyết loại bỏ hoặc biến đổi những gì không phù hợp.
1. Sự tiếp thu có chọn lọc văn hoá Trung Hoa:
Về chữ viết và học thuật: Người Việt tiếp thu chữ Hán để sử dụng trong hành chính và học tập, nhưng sau đó đã sáng tạo ra chữ Nôm để ghi lại tiếng nói riêng của dân tộc.
Về tư tưởng: Tiếp nhận một số yếu tố của Nho giáo như đạo lý, lễ nghĩa, nhưng không hoàn toàn phụ thuộc mà vẫn giữ tinh thần độc lập.
Về kỹ thuật và sản xuất: Học hỏi các tiến bộ như kỹ thuật trồng lúa, làm thủ công, đúc đồng, làm giấy… để phát triển kinh tế.
Về tổ chức xã hội: Tiếp thu một số cách tổ chức bộ máy nhà nước nhưng vẫn duy trì làng xã truyền thống.
→ Nhìn chung: Người Việt không bị đồng hóa hoàn toàn mà luôn chủ động chọn lọc, biến cái của người khác thành cái phù hợp với mình.
2. Những phong tục, tập quán vẫn được giữ gìn đến ngày nay:
Tục thờ cúng tổ tiên: thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn”.
Ăn trầu, nhuộm răng (trước đây): là nét văn hóa truyền thống lâu đời.
Lễ hội dân gian: như hội làng, lễ hội mùa xuân, gắn với tín ngưỡng bản địa.
Tục gói bánh chưng, bánh giầy vào dịp Tết: mang ý nghĩa văn hóa – lịch sử sâu sắc.
Dù trải qua thời gian dài bị đô hộ, nhân dân ta vẫn giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời biết tiếp thu tinh hoa bên ngoài một cách có chọn lọc. Đây chính là yếu tố quan trọng giúp dân tộc Việt Nam tồn tại và phát triển bền vững đến ngày nay.
1. Cách nhân dân ta tiếp thu có chọn lọc văn hóa Trung Hoa
Dù các triều đại phong kiến phương Bắc thực hiện chính sách đồng hóa gắt gao, nhân dân ta đã chủ động tiếp biến văn hóa theo hướng "Việt hóa":
Về ngôn ngữ: Tiếp thu chữ Hán nhưng không bị đồng hóa về tiếng nói. Chúng ta đã mượn các từ ngữ Hán để làm phong phú thêm vốn từ của mình (từ Hán - Việt) và dùng âm đọc của người Việt (âm Hán Việt) để đọc chữ Hán.
Về tư tưởng, tôn giáo:Nho giáo: Tiếp thu các quy tắc đạo đức, lễ nghĩa nhưng bỏ đi quan điểm "trung quân mù quáng" (người Việt chỉ trung thành với các vị vua yêu nước, chống ngoại xâm).
Đạo giáo và Phật giáo: Tiếp thu mạnh mẽ vì có nhiều điểm tương đồng với tín ngưỡng dân gian, đề cao sự lương thiện và bác ái. Phật giáo thời kỳ này phát triển rực rỡ và trở thành chỗ dựa tinh thần cho nhân dân.
Về kỹ thuật và đời sống: Tiếp thu các kỹ thuật sản xuất tiến bộ như: kỹ thuật đúc sắt, làm giấy, dệt vải lụa, làm đồ gốm tráng men, các phương pháp trồng trọt và chăn nuôi mới, y học (thuốc Bắc)... nhưng vẫn duy trì các phương thức sản xuất truyền thống của cư dân lúa nước.
2. Những phong tục tập quán vẫn còn giữ gìn đến ngày nay
Sức sống mãnh liệt của văn hóa Việt được thể hiện rõ nhất qua những phong tục cổ xưa vẫn được duy trì bền bỉ qua hàng ngàn năm Bắc thuộc và tồn tại đến tận ngày nay:
Tục ăn trầu, nhuộm răng đen: Đây là những phong tục đặc trưng từ thời Văn Lang - Âu Lạc, giúp phân biệt người Việt với người phương Bắc.
Tục làm bánh chưng, bánh giầy: Thể hiện lòng biết ơn tổ tiên và đề cao giá trị của nông nghiệp lúa nước (thường diễn ra vào dịp Tết Nguyên đán).
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên: Đây là nét văn hóa cốt lõi nhất, thể hiện đạo lý "Uống nước nhớ nguồn".
Tục xăm mình: Vẫn tồn tại lâu dài đến thời nhà Trần mới dần nhạt đi (ban đầu dùng để tránh thủy quái).
Tín ngưỡng thờ các vị anh hùng dân tộc, thành hoàng làng: Nhân dân lập đền thờ những người có công với nước, với dân (Hai Bà Trưng, Bà Triệu...).
Các lễ hội dân gian: Đua thuyền, đấu vật, hát xoan, hát quan họ... gắn liền với cộng đồng làng xã.
Tóm lại: Nhân dân ta đã thực hiện phương châm "Hòa nhập nhưng không hòa tan". Việc tiếp thu cái hay của văn hóa Trung Hoa giúp xã hội Việt Nam phát triển nhanh hơn, nhưng những giá trị cốt lõi của người Việt vẫn được bảo tồn nguyên vẹn.
Trong thời kỳ Bắc thuộc, nhân dân ta không chỉ đấu tranh bảo vệ văn hóa truyền thống mà còn chủ động tiếp thu có chọn lọc các tinh hoa văn hóa Trung Hoa để làm giàu thêm bản sắc dân tộc.
1. Cách nhân dân ta tiếp thu có chọn lọc văn hóa Trung Hoa
Ngôn ngữ và Chữ viết: Tiếp thu chữ Hán nhưng vẫn giữ gìn tiếng mẹ đẻ. Người Việt đã mượn âm đọc của chữ Hán để tạo ra cách đọc Hán - Việt, từ đó làm phong phú thêm vốn từ vựng của mình.
Tôn giáo và Tư tưởng: Tiếp nhận Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo. Tuy nhiên, các tư tưởng này đều được "Việt hóa" để phù hợp với truyền thống đạo đức, lối sống của người Việt (ví dụ: Phật giáo hòa quyện với tín ngưỡng bản địa).
Kỹ thuật sản xuất: Học hỏi các kỹ thuật tiến bộ từ phương Bắc như đúc đồng, rèn sắt, làm giấy, làm đồ thủy tinh và kỹ thuật bón phân trong nông nghiệp.
Lễ tiết: Tiếp thu một số ngày lễ Tết như Tết Nguyên Đán, Tết Đoan Ngọ, Tết Trung Thu... nhưng biến đổi nội dung và ý nghĩa theo phong tục Việt Nam.
2. Những phong tục tập quán vẫn còn giữ gìn đến ngày nay
Dù trải qua nghìn năm đô hộ và đồng hóa, người Việt vẫn bảo tồn được những nét văn hóa cốt lõi:
Tín ngưỡng: Thờ cúng tổ tiên và các vị anh hùng dân tộc, thờ các vị thần tự nhiên.
Ẩm thực: Tục ăn trầu, làm bánh chưng, bánh giầy trong các dịp lễ Tết quan trọng.
Lối sống: Nhuộm răng đen, búi tóc (từng rất phổ biến trong quá khứ).
Ngôn ngữ: Tiếng Việt vẫn được duy trì và truyền dạy qua các thế hệ như một sợi dây liên kết dân tộc bền vững.
Quảng cáo
Bạn cần hỏi gì?
Câu hỏi hot cùng chủ đề
-
Đã trả lời bởi chuyên gia
14722 -
11813
-
Đã trả lời bởi chuyên gia
4377 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
4081 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
3405 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
2418 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
2380
