ĐỀ 2:
PHẦN I: ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
PHÍA TRĂNG LÊN
(Tóm tắt đoạn đầu: Bà Mai lên thành phố chơi với con trai cả là Thức, nhưng bà cảm thấy cuộc sống đô thị ngột ngạt, con dâu không ưa bà, cháu trai thì mắt sưng húp vì chơi điện thoại, cháu gái tự kỷ. Bà nhớ về làng quê yên bình và những điều mộc mạc. Thức nhận ra sự phiền muộn của mẹ nên đưa bà về quê. Bà Mai dặn Thức nên làm lành với em trai là Tôn. Mâu thuẫn giữa hai anh em xuất phát từ việc Thức đòi chia đất đai ở quê, nhưng Tôn không đồng ý vì Thức và vợ coi thường, xa lánh họ hàng và không hề quan tâm đến mảnh đất quê hương, giỗ lễ luôn viện cớ không về).
Hai mẹ con bà Mai về tới nhà lúc cuối chiều. Đường làng êm ru. Từ đầu làng Thức đã thấy hương đồng nội ập ào vào mình. Thức xin mẹ cho ở lại ăn cơm. Trong bữa ăn, Tôn chẳng nói gì dù bà Mai khơi nhiều chuyện vui. Xong bữa, Tôn sang hàng xóm uống nước chè. Trăng quê vành vạnh sáng. Hương sen, hương đồng bãi tràn về làm buổi tối bình yên quá đỗi. Thức trải chiếu ra giữa sân gạch ngồi ngắm trăng. Anh ôn lại chuyện xửa xưa với mẹ. Ký ức dắt anh trở về ấu thơ, Thức và Tôn vẫn chơi đùa, lấy mo cau làm thuyền để kéo nhau. Mỗi mùa gặt, ngõ thì phơi rơm, sân gạch phơi đầy thóc. Nhiều lần hai anh em lăn lộn trên sân rồi cười như ngô rang. Vạt ký ức êm đềm làm Thức rơm rơm mắt. Thoáng cái, hai anh em đã đầu hai thứ tóc. Nếp nhà cổ, tuy cũ kỹ nhưng Tôn đã sửa lại, khá đẹp. Ước gì… Tâm trạng anh bỗng trở nên rối bời. Sớm sau, khi chưa rõ mặt người, Thức về thành phố.
Trăng sao quê nhà đánh thức một điều nằm sâu trong Thức. Anh nhớ đến lời mời của người bạn. Cuối tuần, anh đưa vợ con về quê bạn. Vườn rau, ao cá, những vạt cỏ, chú chim, con gà làm hai con thích thú. Thằng Mít tha hồ chơi với bọn trẻ trong xóm, nhìn thấy con vật gì cũng hỏi. Còn cái Bông được cầm cần câu cá, mon men ra vườn hái rau. Nhìn thấy chuồn chuồn, bươm bướm, nó đã chịu cười nói nhiều hơn. Những hình ảnh ấy khiến Thức lặng đi. Phải rồi. Mình quá ích kỷ, đã mải chạy theo rất nhiều thứ vô nghĩa mà quên cuộc sống bình an. Rốt cuộc thì mình cần gì ở cuộc đời này? Tiền tài? Danh vọng? Hay một gia đình nhiều tiếng cười?
***
Ngày giỗ ông Mai, vợ chồng Thức đưa hai con về quê khiến bà Mai và Tôn bất ngờ. Vợ Tôn nấu nướng, nhặt rau, vợ Thức cũng xắn tay làm cùng. Nắng nhẹ chiếu lên hàng cau. Khi ngơi việc, vợ Thức còn ra vườn nhổ cỏ cho những luống hoa, khác hẳn người đàn bà ghê gớm bốn năm trước đã nói cạch cái làng này, không bao giờ về nữa. Tôn ngầm bảo vợ, cứ để chị ta làm, mọi chuyện rồi sẽ êm. Bà Mai mừng lòng khi thấy mấy đứa cháu quê nhà cứ ríu rít chơi với hai con của Thức.
Thức nói với các con, cho cả các cháu nghe: “Chơi ở cái sân này là thích nhất. Đây là nơi bố và chú Tôn thường đùa vui suốt tuổi niên thiếu. Có lần, bố nhảy từ trên bể nước xuống, va vào thùng nước tưới, đầu gối bị rách, máu tứa ra. Chú Tôn mếu máo khóc đi gọi bà. Cũng có lần hai anh thi xem ai là người cõng người kia được lâu nhất. Đến lượt chú Tôn cõng thì vì gầy quá, cái quần đùi tụt đến đầu gối”. Cái Bông đột nhiên nói: “Bố ơi, con thích ở đây!”. Thằng Mít hùa theo: “Con muốn chơi ở quê mình”. Thức cười: “Vậy bố sẽ đưa các con về ăn bám bà nội và chú thím”.
Tôn ở bên trong sắp lễ, nghe thấy hết lời anh và các cháu. Khi mâm cúng đã đủ, Tôn chủ lễ khấn cúng, bà Mai và Thức đứng chắp tay phía sau. Bà Mai cầu mong hai con đoàn kết. Còn Tôn thấy tim mình đập thình thịch. Anh tự hỏi, không biết cha có giận khi mình thử thách anh trai quá nặng? Liệu anh trai có thay tính đổi nết, hay chỉ vờ vĩnh cho mọi người cảm thông? Còn Thức thành tâm cầu khấn, xin Tôn hiểu lòng mình hơn, khi bản thân đã ân hận vì làm anh mà hành xử chưa đúng. Ở làng, chẳng ít “ông nọ bà kia” thoát ly, hiếm khi về làng, lúc cuối đời lại xin đất chôn thì ai nghe được. Người làng thật thà, chất phác, nhưng họ sẵn sàng quay mặt khi bị coi thường.
(Lược một đoạn: Sau cuộc trò chuyện và uống rượu cùng nhau, Thức và Tôn đã hòa giải. Tôn chủ động chia cho anh trai vài trăm mét đất để xây nhà, khiến vợ chồng Thức vô cùng hạnh phúc. Gia đình sum họp, quây quần bên nhau trong không gian ngập tràn hương sen và ánh trăng).
Sau này, khi có hai mẹ con, bà Mai hỏi Tôn: “Vì sao với người ngoài, con thoải mái thế, còn với anh trai lại có phần khắt khe?”. Tôn thưa: “Mẹ ơi, không thử thách thì vợ chồng anh ấy có biết nghĩ lại không ạ! Con chỉ muốn anh ấy đừng bao giờ coi thường người làng, và phải biết yêu cái gốc gác của mình”. Bà Mai gật đầu: “Cũng phải. Tốt quá rồi!”.
Song bà Mai cũng không biết, chính Tôn đã nhờ người bạn của Thức mời Thức về quê anh ta để chữa bệnh. Cái bệnh xa làng, thiếu quê hương nguy hiểm lắm.
(Truyện ngắn của Thanh Quang, Báo Nhân Dân điện tử, Thứ Sáu, ngày 30/05/2025)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. (0,5điểm) Chỉ ra dấu hiệu nhận biết ngôi kể trong văn bản.
Câu 2. (0,5 điểm) Trong văn bản, những hình ảnh nào đã khiến Thức lặng đi.
Câu 3. (1,0 điểm) Phân tích tác dụng của việc sử dụng câu hỏi tu từ trong những câu văn sau: Rốt cuộc thì mình cần gì ở cuộc đời này? Tiền tài? Danh vọng? Hay một gia đình nhiều tiếng cười?
Câu 4. (1,0 điểm) Vai trò của chi tiết Tôn đã nhờ người bạn của Thức mời Thức về quê anh ta để chữa bệnh. Cái bệnh xa làng, thiếu quê hương nguy hiểm lắm trong việc thể hiện nội dung văn bản.
Câu 5. (1,0 điểm) Hai ngữ liệu sau đây có sự tương đồng nào về ý nghĩa?
Trăng sao quê nhà đánh thức một điều nằm sâu trong Thức
(Phía trăng lên – Thanh Quang)
Trăng cứ tròn vành vạnh
kể chi người vô tình
ánh trăng im phăng phắc
đủ cho ta giật mình
(Ánh trăng – Nguyễn Duy)
Quảng cáo
3 câu trả lời 215
Câu 1 (0,5 điểm)
Dấu hiệu nhận biết ngôi kể:
Văn bản được kể theo ngôi thứ ba.
Dấu hiệu: Người kể chuyện gọi tên nhân vật (“Thức”, “Tôn”, “bà Mai”) và dùng đại từ ngôi thứ ba (“anh”, “bà”, “họ”).
Câu 2 (0,5 điểm)
Những hình ảnh khiến Thức lặng đi:
Vườn rau, ao cá
Những vạt cỏ
Chú chim, con gà
Cảnh các con vui chơi:
Thằng Mít chơi với trẻ trong xóm
Cái Bông cầm cần câu cá, hái rau, cười nói nhiều hơn
Đây là những hình ảnh bình dị, trong trẻo của làng quê, gợi lại giá trị sống thật sự.
Câu 3 (1,0 điểm)
Tác dụng của câu hỏi tu từ:
“Rốt cuộc thì mình cần gì ở cuộc đời này? Tiền tài? Danh vọng? Hay một gia đình nhiều tiếng cười?”
Thể hiện sự trăn trở, tự vấn nội tâm sâu sắc của nhân vật Thức.
Nhấn mạnh sự thức tỉnh: từ việc chạy theo vật chất → nhận ra giá trị thật của cuộc sống.
Gợi suy ngẫm cho người đọc về lựa chọn giữa:
tiền tài, danh vọng
và hạnh phúc gia đình, sự bình yên
Là điểm chuyển biến quan trọng trong nhận thức của nhân vật.
Câu 4 (1,0 điểm)
Vai trò của chi tiết: Tôn nhờ bạn mời Thức về quê để “chữa bệnh xa làng”
Thể hiện tình cảm sâu sắc của Tôn dành cho anh trai (âm thầm, không nói ra).
Làm rõ nguyên nhân sự thay đổi của Thức: không phải ngẫu nhiên mà là có sự “sắp đặt đầy yêu thương”.
Khẳng định thông điệp truyện:
Con người cần quay về cội nguồn
Xa quê, quên gốc là một “căn bệnh tinh thần” nguy hiểm
Tạo chiều sâu nhân văn: tình thân, sự bao dung, cách yêu thương kín đáo của người quê.
Câu 5 (1,0 điểm)
Sự tương đồng về ý nghĩa giữa hai ngữ liệu:
Cả hai đều sử dụng hình ảnh ánh trăng để:
Đánh thức con người
Gợi nhắc về quá khứ, cội nguồn, nghĩa tình
Cụ thể:
Trong “Phía trăng lên”:
→ Trăng làm Thức nhớ về quê hương, tuổi thơ, gia đình → thức tỉnh nhận thức.
Trong “Ánh trăng” – Nguyễn Duy:
→ Trăng khiến con người giật mình nhận ra sự vô tình, lãng quên quá khứ.
Điểm chung:
→ Ánh trăng là biểu tượng của quá khứ nghĩa tình, cội nguồn, giúp con người soi lại bản thân và thức tỉnh lương tri.
Dưới đây là phần trả lời chi tiết từng câu:
Câu 1 (0,5 điểm):
Văn bản được kể theo ngôi thứ ba.
Dấu hiệu: người kể chuyện xưng gọi các nhân vật bằng tên như “Thức”, “Tôn”, “bà Mai”, không xưng “tôi”.
Câu 2 (0,5 điểm):
Những hình ảnh khiến Thức lặng đi là:
Vườn rau, ao cá, những vạt cỏ.
Chú chim, con gà.
Hai con của Thức vui chơi: thằng Mít chơi với trẻ con trong xóm, cái Bông cười nói, câu cá, hái rau.
→ Những hình ảnh bình dị, yên bình của làng quê.
Câu 3 (1,0 điểm):
Tác dụng của câu hỏi tu từ:
Thể hiện sự trăn trở, suy ngẫm sâu sắc của Thức về ý nghĩa cuộc sống.
Nhấn mạnh sự thức tỉnh: nhận ra mình đã chạy theo tiền tài, danh vọng mà quên đi hạnh phúc gia đình.
Làm nổi bật thông điệp: con người cần hướng đến cuộc sống bình an, tình thân và niềm vui giản dị.
Câu 4 (1,0 điểm):
Vai trò của chi tiết:
Thể hiện tấm lòng sâu sắc, tinh tế của Tôn: tuy có vẻ khắt khe nhưng thực chất rất thương anh.
Làm rõ mục đích của Tôn: giúp Thức nhận ra giá trị của quê hương, gia đình.
Góp phần làm nổi bật chủ đề: con người cần trân trọng cội nguồn, gắn bó với quê hương.
Tạo chiều sâu cho truyện, giúp câu chuyện trở nên cảm động và ý nghĩa hơn.
Câu 5 (1,0 điểm):
Hai ngữ liệu có điểm tương đồng:
Đều sử dụng hình ảnh ánh trăng như một biểu tượng.
Ánh trăng gợi sự thức tỉnh lương tri, đánh thức những điều sâu kín trong tâm hồn con người.
Nhắc nhở con người nhìn lại bản thân, sống có tình nghĩa, không vô tâm với quá khứ, quê hương.
Câu 1. (0,5 điểm)
Dấu hiệu nhận biết ngôi kể: Văn bản sử dụng ngôi kể thứ ba.
Biểu hiện: Người kể giấu mình, gọi tên các nhân vật bằng tên riêng (bà Mai, Thức, Tôn, cái Bông, thằng Mít...) và miêu tả được diễn biến tâm lý, suy nghĩ nội tâm của nhiều nhân vật khác nhau.
Câu 2. (0,5 điểm)
Những hình ảnh khiến Thức lặng đi là:
Hình ảnh thiên nhiên, cảnh vật ở quê bạn: vườn rau, ao cá, những vạt cỏ, chú chim, con gà.
Hình ảnh sự thay đổi của hai con: thằng Mít tha hồ chơi với bọn trẻ, cái Bông biết cười nói nhiều hơn khi được cầm cần câu, hái rau, nhìn thấy chuồn chuồn, bươm bướm.
Câu 3. (1,0 điểm)
Tác dụng của việc sử dụng các câu hỏi tu từ:
Về nội dung: Thể hiện sự trăn trở, tự vấn và quá trình thức tỉnh sâu sắc trong tâm hồn nhân vật Thức. Anh nhận ra sự vô nghĩa của những giá trị vật chất (tiền tài, danh vọng) khi so sánh với những giá trị tinh thần thiêng liêng (sự bình an, tiếng cười gia đình).
Về nghệ thuật: Làm cho giọng văn trở nên truyền cảm, sâu lắng; giúp người đọc cùng suy ngẫm về mục đích sống đích thực của chính mình.
Câu 4. (1,0 điểm)
Vai trò của chi tiết này:
Khắc họa tính cách nhân vật: Cho thấy Tôn là một người em sâu sắc, tinh tế và hết lòng yêu thương anh trai. Cách anh "thử thách" không phải vì ích kỷ mà vì muốn cứu vãn tâm hồn đã bị đô thị hóa của anh mình.
Thể hiện tư tưởng, nội dung văn bản: Nhấn mạnh thông điệp của truyện: Sự thờ ơ, chối bỏ cội nguồn là một loại "bệnh" tâm hồn nguy hiểm. Chỉ có tình yêu quê hương và sự kết nối với gốc gác mới có thể chữa lành và mang lại hạnh phúc thực sự.
Câu 5. (1,0 điểm)
Sự tương đồng về ý nghĩa giữa hai ngữ liệu:
Biểu tượng "Trăng": Cả hai đều sử dụng hình ảnh ánh trăng như một người bạn cũ, một nhân chứng hiền hậu, bao dung của quá khứ và quê hương.
Sự thức tỉnh: Cả hai đều diễn tả khoảnh khắc con người chợt nhận ra sự vô tình của mình trước những giá trị nghĩa tình, thủy chung. Nếu Thức được "đánh thức" một điều nằm sâu trong lòng thì nhân vật trữ tình trong thơ Nguyễn Duy cũng "giật mình" hối lỗi trước ánh trăng im phăng phắc.
Thông điệp: Khẳng định sức mạnh thức tỉnh của thiên nhiên và cội nguồn đối với những tâm hồn đang bị cuốn vào vòng xoáy của cuộc sống hiện đại, nhắc nhở con người sống đạo lý "uống nước nhớ nguồn".
Quảng cáo
Bạn cần hỏi gì?
Câu hỏi hot cùng chủ đề
-
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
95590 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
57351 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
47891 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
44462 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
39930 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
36836 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
35528 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
34636 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
30353 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
30114
