ĐỀ KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG VĂN 7
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm). Đọc văn bản sau:
CHÂN, TAY, TAI, MẮT, MIỆNG
Cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay, bác Tai, lão Miệng từ xưa vẫn sống với nhau rất thân thiết. Bỗng một hôm, cô Mắt đến than thở với cậu Chân, cậu Tay rằng:
– Bác Tai, hai anh và tôi làm việc mệt nhọc quanh năm, còn lão Miệng chẳng làm gì cả, chỉ ngồi ăn không. Nay chúng ta đừng làm gì nữa, thử xem lão Miệng có sống được hay không.
Cậu Chân, cậu Tay cũng nói:
– Phải đấy! Chúng ta phải đi nói cho lão Miệng biết để lão tự lo lấy. Chúng ta vất vả nhiều rồi. Nay đã đến lúc lão phải tự mình tìm lấy thức ăn, xem lão có làm nổi không.
Cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay cùng kéo nhau đến nhà lão Miệng. Đi qua nhà bác Tai, họ thấy bác ta đang ngồi im lặng như nghe ngóng điều gì. Cả ba cùng chạy vào nói:
– Bác Tai ơi, bác có đi với chúng cháu đến nhà lão Miệng không? Chúng cháu đến nói cho lão biết từ nay chúng cháu không làm cho lão ăn nữa. Chúng cháu cũng như bác, lâu nay vất vả nhiều rồi, nay phải nghỉ ngơi mới được.
Bác Tai gật đầu lia lịa:
– Phải, phải… Bác sẽ đi với các cháu!
Bốn người hăm hở đến nhà lão Miệng. Ðến nơi, họ không chào hỏi gì cả, cậu Chân, cậu Tay nói thẳng luôn với lão:
– Chúng tôi hôm nay đến không phải để thăm hỏi, trò chuyện gì với ông, mà để nói cho ông biết: từ nay chúng tôi không làm để nuôi ông nữa. Lâu nay, chúng tôi đã cực khổ, vất vả vì ông nhiều rồi.
Lão Miệng nghe nói, rất lấy làm ngạc nhiên. Lão nói:
– Có chuyện gì muốn bàn với nhau thì hãy vào nhà đã. Làm gì mà nóng nảy thế?
Bác Tai, cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay đều lắc đầu mà rằng:
– Không, không phải bàn bạc gì nữa, từ nay trở đi, ông phải lo lấy mà sống. Còn chúng tôi, chúng tôi sẽ không làm gì cả. Xưa nay, chúng tôi có biết cái gì ngọt bùi ngon lành mà làm cho cực! Nói rồi cả bọn kéo nhau về.
Từ hôm đó, bác Tai, cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay không làm gì nữa. Một ngày, hai ngày, rồi ba ngày, cả bọn thấy mệt mỏi, rã rời. Cậu Chân, cậu Tay không còn muốn cất mình lên để chạy nhảy vui đùa như trước nữa; cô Mắt thì ngày cũng như đêm lúc nào cũng lờ đờ, thấy hai mi nặng trĩu như buồn ngủ mà ngủ không được. Bác Tai trước kia hay đi nghe hò nghe hát, nghe tiếng gì cũng rõ, nay bỗng thấy lúc nào cũng ù như xay lúa ở trong. Cả bọn lừ đừ mệt mỏi như thế, cho đến ngày thứ bảy thì không chịu được nữa, đành họp nhau lại để bàn. Bác Tai nói với cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay:
– Chúng ta lầm rồi các cháu ạ. Chúng ta nếu không làm cho lão Miệng có cái ăn thì chúng ta sẽ bị tê liệt tất cả. Lão Miệng không đi làm, nhưng lão có công việc là nhai. Như vậy cũng là làm việc chứ không phải ăn không ngồi rồi. Trước kia sống với nhau thân thiết như thế, nay tự dưng chúng ta gây nên chuyện. Lão Miệng có ăn thì chúng ta mới khỏe khoắn được. Chúng ta nên đến nói lại với lão, các cháu có đi không?
Cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay cố gượng dậy đi theo bác Tai đến nhà lão Miệng. Ðến nơi, họ thấy lão Miệng cũng nhợt nhạt cả hai môi, hàm răng thì khô như rang, không buồn nhếch mép. Bác Tai, cô Mắt vực lão Miệng dậy. Còn cậu Chân, cậu Tay thì đi tìm thức ăn. Lão Miệng ăn xong dần dần tỉnh lại. Bác Tai, cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay tự nhiên thấy đỡ mệt nhọc, rồi thấy trong mình khoan khoái như trước. Từ đó lão Miệng, bác Tai, cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay lại thân mật sống với nhau, mỗi người một việc, không ai tị ai cả.
(Theo Truyện cổ dân gian Việt Nam)
Trả lời các câu hỏi:
Câu 1. Truyện “Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng” thuộc thể loại nào? Nêu dấu hiệu giúp em nhận ra thể loại đó?
Câu 2. Tại sao các bộ phận khác cho rằng lão Miệng là người sướng nhất?
Câu 3. Em hãy cho biết công dụng của dấu chấm lửng trong câu:
Bác Tai gật đầu lia lịa:
– Phải, phải… Bác sẽ đi với các cháu!
Câu 4. Chỉ ra phép liên kết hình thức và phương tiện liên kết trong những câu văn sau:
Bác Tai ơi, bác có đi với chúng cháu đến nhà lão Miệng không? Chúng cháu đến nói cho lão biết từ nay chúng cháu không làm cho lão ăn nữa. Chúng cháu cũng như bác, lâu nay vất vả nhiều rồi, nay phải nghỉ ngơi mới được.
Câu 5. Tìm và giải thích nghĩa của thành ngữ trong những câu sau: “Lão Miệng không đi làm, nhưng lão có công việc là nhai. Như vậy cũng là làm việc chứ không phải ăn không ngồi rồi.”
Câu 6: Từ câu chuyện trên, em rút ra được những bài học nào cho bản thân? ( Trình bày bằng một đoạn văn ngắn từ 4 đến 6 câu văn)
II. VIẾT (4.0 điểm).
Tục ngữ có câu: Muốn lành nghề, chớ nề học hỏi. Em hãy viết bài văn nghị luận trình bày ý kiến tán thành.
Quảng cáo
1 câu trả lời 80
Câu 1:
Thể loại: Truyện ngụ ngôn.
Dấu hiệu nhận biết:Sử dụng biện pháp nhân hóa (các bộ phận cơ thể có suy nghĩ, tiếng nói như con người).
Nội dung mượn chuyện các bộ phận cơ thể để nêu lên bài học về cách ứng xử, triết lý sống của con người.
Câu 2:
Các bộ phận khác cho rằng lão Miệng sướng nhất vì họ thấy mình phải làm việc mệt nhọc quanh năm (chân đi, tay làm, mắt nhìn, tai nghe), trong khi lão Miệng "chẳng làm gì cả, chỉ ngồi ăn không".
Câu 3:
Công dụng của dấu chấm lửng: Biểu đạt sự ngập ngừng, ngắt quãng trong lời nói của bác Tai, đồng thời thể hiện thái độ đồng tình, vồn vã của bác.
Câu 4:
Phép liên kết: Phép lặp.
Phương tiện liên kết: Lặp lại từ ngữ "chúng cháu", "bác", "lão Miệng". (Ngoài ra còn có phép nối bằng từ "cũng như").
Câu 5:
Thành ngữ: "Ăn không ngồi rồi".
Giải thích: Chỉ những người nhàn rỗi, không làm bất cứ việc gì, chỉ biết hưởng thụ sức lao động của người khác.
Câu 6 (Đoạn văn nghị luận):
Gợi ý nội dung:Câu chuyện để lại bài học sâu sắc về tính đoàn kết và sự gắn bó mật thiết giữa các cá nhân trong một tập thể.
Mỗi người đều có một vị trí, vai trò riêng, không ai là vô ích; chúng ta cần tôn trọng công sức của nhau thay vì đố kỵ, tị nạnh.
Cá nhân không thể tồn tại tách rời cộng đồng; khi tập thể suy yếu, bản thân mỗi người cũng sẽ bị ảnh hưởng.
Vì vậy, trong cuộc sống, em cần biết sống hòa đồng, trách nhiệm và luôn thấu hiểu cho vị trí của người khác để cùng xây dựng một xã hội tốt đẹp.
II. PHẦN VIẾT (4.0 điểm)
Đề bài: Nghị luận về câu tục ngữ "Muốn lành nghề, chớ nề học hỏi".
Dàn ý gợi ý:
1. Mở bài:
Dẫn dắt về vai trò của việc học tập và rèn luyện đối với sự thành công.
Trích dẫn câu tục ngữ và nêu ý nghĩa khái quát: Khẳng định tầm quan trọng của thái độ ham học hỏi đối với việc thành thạo nghề nghiệp.
2. Thân bài:
Giải thích:"Lành nghề": Sự tinh thông, giỏi giang, thành thạo trong một công việc hay nghề nghiệp nào đó.
"Chớ nề học hỏi": Đừng ngại ngần, đừng lười biếng trong việc tìm tòi, trau dồi kiến thức từ người khác và từ thực tế.
=> Ý cả câu: Muốn đạt đến trình độ cao trong công việc, con người cần phải có tinh thần học tập không ngừng.
Tại sao phải "chớ nề học hỏi"?Kiến thức nhân loại là vô tận, không ai tự nhiên sinh ra đã giỏi ngay.
Học hỏi giúp ta rút ngắn khoảng cách đến thành công, tránh được những sai lầm mà người đi trước đã mắc phải.
Xã hội luôn vận động, nếu không học hỏi sẽ bị lạc hậu và đào thải.
Biểu hiện của tinh thần học hỏi:Lắng nghe kinh nghiệm từ thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp.
Tự học qua sách báo, internet và thực hành thực tế.
Không giấu dốt, sẵn sàng hỏi những điều mình chưa biết.
Mở rộng vấn đề:Phê phán những người lười học, tự phụ, cho rằng mình đã biết hết nên mãi dậm chân tại chỗ.
Tuy nhiên, học hỏi cần có chọn lọc, tránh sao chép máy móc.
3. Kết bài:
Khẳng định lại tính đúng đắn của câu tục ngữ.
Liên hệ bản thân: Là học sinh, cần rèn luyện tính chủ động, ham học hỏi ngay từ trên ghế nhà trường để chuẩn bị cho tương lai.
Quảng cáo
Bạn cần hỏi gì?
Câu hỏi hot cùng chủ đề
-
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
75715 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
62634 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
55904 -
53634
-
Đã trả lời bởi chuyên gia
41131 -
40812
-
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
39727 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
35056
