Đọc đoạn trích sau:
(Tóm tắt phần đầu: Từ Thức làm quan Tri huyện Tiên Du, nhân một buổi xem hội hoa mẫu đơn mà cứu giúp một người con gái đẹp. Vì tính ham thơ mến cảnh nên chàng đã từ quan mà chọn sống chốn nước biếc non xanh. Một hôm Từ Thức mải vãn cảnh mà lạc vào động tiên, gặp lại người con gái mà chàng đã cứu hôm đi hội, mới biết hóa ra cô gái đó chính là nàng tiên Giáng Hương, con của bà tiên cai quản vùng núi Phù Lai, động tiên thứ 6 trong 36 động tiên bồng bềnh ngoài biển cả. Để báo đáp ơn cứu mạng trước kia, phu nhân đã tác hợp cho Từ Thức và Giáng Hương nên duyên vợ chồng trong sự chúc phúc của quần tiên.)
Nhưng từ khi chàng bỏ nhà đi thấm thoát đã được một năm, ao sen đã đổi thay mầu biếc. Những đêm sương sa gió thổi, bóng trăng sáng nhòm qua cửa sổ, tiếng thủy triều nghe vẳng đầu giường, đối cảnh chạnh lòng, một mối buồn bâng khuâng, quấy nhiễu khiến không sao ngủ được. Một hôm trông ra bể, thấy một chiếc tàu buôn đi về phương nam, Từ trỏ bảo Giáng Hương rằng:
- Nhà tôi đi về phía kia kìa, song biển cả trời xa, chẳng biết là ở tận đâu.
Rồi nhân lúc rỗi, chàng nói với nàng rằng:
- Tôi bước khách bơ vơ, lòng quê bịn rịn, lệ hoa thánh thót, lòng cỏ héo hon, dám xin thể tình mà cho được tạm về, chẳng hay ý nàng nghĩ thế nào?
Giáng Hương bùi ngùi không nỡ dứt. Từ lang nói:
- Tôi xin hẹn trong một thời kỳ bao nhiêu lâu, để về cho bạn bè gặp mặt và thu xếp việc nhà cho yên, sẽ lại đến đây để với nàng cùng già ở chỗ làng mây bến nước.
Giáng Hương khóc mà nói:
- Thiếp chẳng dám vì tình phu phụ mà ngăn cản mối lòng quê hương của chàng. Song cõi trần nhỏ hẹp, kiếp trần ngắn ngủi, dù nay chàng về, nhưng chỉ e liễu sân hoa vườn, không còn đâu cảnh tượng như ngày trước nữa.
Nàng nhân thưa với phu nhân, phu nhân nói:
- Không ngờ chàng lại thắc mắc vì mối lòng trần như vậy.
Nhân cho một cỗ xe cẩm vân để chàng cưỡi về. Nàng cũng đưa cho chàng một bức thư viết vào lụa mà nói:
- Ngày khác trông thấy vật này, xin đừng quên mối tình cũ kĩ..
Rồi trào nước mắt mà chia biệt.
Chàng đi chỉ thoắt chốc đã về đến nhà, thì thấy vật đổi sao dời, thành quách nhân gian, hết thảy đều không như trước nữa, duy có những cảnh núi khe là vẫn không thay đổi sắc biếc màu xanh thủa nọ. Bèn đem tên họ mình hỏi thăm những người già cả thì thấy có người nói:
- Thuở bé tôi nghe nói ông cụ tam đại nhà tôi cũng cùng tên họ như ông, đi vào núi mất đến nay đã hơn 80 năm, nay đã là năm thứ 5 niên hiệu Diên Ninh là đời ông vua thứ ba của triều Lê rồi.
Chàng bấy giờ mới buồn bực bùi ngùi; muốn lại lên xe mây để đi, nhưng xe đã hóa làm một con chim loan mà bay mất. Mở thư ra đọc, thấy có câu: "Kết lứa phượng ở trong mây, duyên xưa đã hết, tìm non tiên ở trên biển, dịp khác còn đâu!" mới biết là Giáng Hương đã nói trước với mình những lời ly biệt. Chàng bèn mặc áo cừu nhẹ, đội nón lá ngắn, vào núi Hoành Sơn, rồi sau không biết đi đâu mất.
(Trích Từ Thức lấy vợ tiên, Truyền kì mạn lục, Nguyễn Dữ, in trong cuốn Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, tập 1, Nguyễn Đăng Na giới thiệu và tuyển soạn, NXB Giáo dục, 1997, tr 259 - 260)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. Chỉ ra không gian và thời gian trong đoạn trích trên.
Câu 2. Theo đoạn trích, khi trở lại chốn cũ quê xưa, Từ Thức thấy những cảnh tượng gì?
Câu 3. Chỉ ra và nêu tác dụng của yếu tố kì ảo trong đoạn trích.
Câu 4. Anh/Chị hãy lí giải sự lựa chọn của Từ Thức ở cuối đoạn trích: Chàng bèn mặc áo cừu nhẹ, đội nón lá ngắn, vào núi Hoành Sơn, rồi sau không biết đi đâu mất.
Câu 5. Rút ra một thông điệp ý nghĩa nhất và lí giải.
Quảng cáo
1 câu trả lời 97
Câu trả lời số 1:
Dưới đây là phần gợi ý trả lời cho các câu hỏi dựa trên đoạn trích "Từ Thức lấy vợ tiên" trong tác phẩm Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ:
Câu 1. Không gian và thời gian trong đoạn trích
Không gian: Có sự giao thoa giữa hai cõi:
Cõi tiên (động tiên): Nơi "làng mây bến nước", cảnh sắc mỹ lệ nhưng xa cách nhân gian.
Cõi trần (quê cũ): Nơi có "thành quách nhân gian", "núi khe", nhưng thực tế đã thay đổi hoàn toàn ("vật đổi sao dời").
Thời gian: * Thời gian tâm lí/cõi tiên: "Thấm thoát đã được một năm", cảm giác trôi qua rất nhanh.
Thời gian thực tại/cõi trần: Đã trôi qua hơn 80 năm (đến niên hiệu Diên Ninh đời vua thứ ba triều Lê).
Câu 2. Cảnh tượng khi Từ Thức trở lại chốn cũ
Khi trở lại quê xưa, Từ Thức chứng kiến sự thay đổi phũ phàng của thời gian:
Cảnh vật: "Vật đổi sao dời", thành quách và mọi thứ của nhân gian đều không còn như trước. Chỉ duy có cảnh núi khe là giữ được sắc xanh xưa cũ.
Con người: Người thân bạn bè đều đã mất. Chàng trở thành người lạ trên chính quê hương mình. Khi hỏi thăm, chàng chỉ nhận được thông tin về "ông cụ tam đại" (cụ nội) có tên giống mình đã mất tích hơn 80 năm.
Câu 3. Yếu tố kì ảo và tác dụng
Các yếu tố kì ảo:
Cảnh tiên, động tiên và các nhân vật tiên (Giáng Hương, phu nhân).
Cỗ xe cẩm vân (xe mây) đưa Từ Thức về trần chỉ trong "thoắt chốc".
Chiếc xe hóa thành chim loan bay mất.
Sự chênh lệch thời gian phi thực tế (1 năm ở cõi tiên bằng 80 năm ở cõi trần).
Tác dụng:
Về nội dung: Làm tăng sức hấp dẫn, ly kỳ cho câu chuyện; thể hiện khát vọng về một thế giới tốt đẹp, thoát tục của con người thời bấy giờ.
Về ý nghĩa: Nhấn mạnh sự hữu hạn của đời người và sự mong manh của hạnh phúc. Yếu tố kì ảo giúp tác giả gửi gắm triết lý: Tiên và Trần là hai thế giới biệt lập, khi đã lựa chọn ra đi thì khó có đường trở lại.
Câu 4. Lí giải sự lựa chọn của Từ Thức ở cuối đoạn trích
Hành động "mặc áo cừu nhẹ, đội nón lá ngắn, vào núi Hoành Sơn, rồi sau không biết đi đâu mất" cho thấy:
Sự bế tắc và lạc lõng: Từ Thức rơi vào bi kịch "đi không được, ở không xong". Cõi tiên đã đóng cửa (duyên hết, xe loan bay mất), còn cõi trần thì đã quá xa lạ, không còn ai thân thích.
Thái độ ẩn dật: Việc chàng vào núi Hoành Sơn thể hiện cốt cách của một trí thức thời trung đại: khi không tìm thấy sự đồng điệu với thực tại và cảm thấy mình lạc lõng giữa dòng đời, họ chọn cách rời bỏ thế tục để giữ gìn sự thanh cao, tự do.
Kết thúc mở: Đây là cái kết mang màu sắc huyền thoại, cho thấy sự phủ nhận thực tại nghiệt ngã và khao khát tìm kiếm một chân trời tự do khác của nhân vật.
Câu 5. Thông điệp ý nghĩa nhất
Thông điệp: Hãy trân trọng và sống trọn vẹn với hiện tại.
Lí giải: Câu chuyện của Từ Thức là bài học về sự lựa chọn và cái giá của thời gian. Khi ở cõi tiên, chàng nhớ cõi trần; nhưng khi về cõi trần, chàng lại mất tất cả và muốn quay lại cõi tiên. Hạnh phúc thường không nằm ở một nơi xa xôi, huyền ảo mà nằm ở những gì ta đang có. Sự hối tiếc của Từ Thức nhắc nhở chúng ta rằng thời gian là thứ một đi không trở lại ("kiếp trần ngắn ngủi"), nếu không biết trân trọng những giá trị thực tại (gia đình, quê hương, tình yêu) trong đúng thời điểm của nó, con người dễ rơi vào bi kịch lạc lối và cô độc.
Chào bạn, đây là một cách tiếp cận khác cho các câu hỏi trên, tập trung vào việc phân tích chiều sâu tâm lí nhân vật và ý nghĩa triết lý của văn bản:
Câu 1. Không gian và thời gian
Không gian: Thiết lập cấu trúc song song. Một bên là cõi tiên huyền ảo, tĩnh tại ("làng mây bến nước") và một bên là cõi trần biến động, dâu bể ("thành quách nhân gian").
Thời gian: Thiết lập cấu trúc đối lập. Thời gian tại cõi tiên là thời gian ngưng đọng (1 năm), còn thời gian cõi trần là thời gian tuyến tính vận động cực nhanh (hơn 80 năm). Đây là thủ pháp nghệ thuật dùng cái "vô hạn" của tiên giới để soi chiếu cái "hữu hạn" của đời người.
Câu 2. Cảnh tượng khi Từ Thức trở lại quê xưa
Cảnh tượng hiện ra qua lăng kính của sự mất mát và xa lạ:
Sự hoang phế của nhân sinh: Thành quách, nhà cửa, con người đều đã thay đổi hoặc không còn nữa ("vật đổi sao dời").
Sự bền bỉ của thiên nhiên: Chỉ có núi khe là vẫn "xanh biếc", sự vĩnh hằng của thiên nhiên càng làm nổi bật sự nhỏ bé, ngắn ngủi của đời người.
Sự lạc lõng: Chàng trở thành một "di tích sống", một người xa lạ bị thời gian bỏ rơi ngay trên mảnh đất tổ tiên mình.
Câu 3. Yếu tố kì ảo và tác dụng
Yếu tố kì ảo: Cỗ xe mây, chim loan bay mất, bức thư tiên đoán trước tương lai của Giáng Hương và sự lệch pha thời gian giữa hai thế giới.
Tác dụng:
Tạo không khí: Mang đến màu sắc liêu trai, thoát tục đặc trưng của thể loại Truyền kì.
Chuyển tải triết lý: Yếu tố kì ảo (chiếc xe hóa chim bay mất) đóng vai trò là "nút thắt" định mệnh, khẳng định rằng những gì thuộc về cõi tiên chỉ là giấc mộng đẹp, khi đã tan vỡ thì không thể cứu vãn. Nó cực đoan hóa bi kịch của nhân vật để gây ấn tượng mạnh với độc giả.
Câu 4. Lí giải sự lựa chọn của Từ Thức ở cuối đoạn trích
Hành động ra đi của Từ Thức có thể lí giải qua hai khía cạnh:
Sự vỡ mộng: Từ Thức nhận ra mình không còn thuộc về bất cứ thế giới nào. Cõi tiên là quá khứ không thể quay lại, cõi trần là hiện tại không thể hòa nhập. Việc vào núi Hoành Sơn là một cuộc đào thoát khỏi sự cô độc tuyệt đối.
Cái tôi cá nhân: Chàng chọn cách "mất tích" thay vì cam chịu sống một cuộc đời tẻ nhạt, lạc lõng trong sự thay đổi của triều đại. Đây là sự lựa chọn mang tính bi kịch nhưng cũng đầy tự trọng của một kẻ sĩ muốn tìm sự giải thoát cuối cùng trong thiên nhiên.
Câu 5. Thông điệp ý nghĩa nhất
Thông điệp: Bi kịch của việc không thấu hiểu giá trị của sự lựa chọn.
Lí giải: Cuộc đời là một chuỗi những lựa chọn và mỗi lựa chọn đều có giá trị đánh đổi. Từ Thức rời bỏ cõi trần vì ham cảnh tiên, rồi lại rời bỏ cõi tiên vì nhớ lòng trần. Khi chàng đứng ở thế giới này lại nuối tiếc thế giới kia, dẫn đến kết cục mất tất cả. Thông điệp rút ra là con người cần có sự kiên định và tỉnh thức trong lựa chọn của mình. Hạnh phúc không nằm ở việc tìm kiếm một thiên đường khác, mà ở sự chấp nhận và trân trọng thực tại mình đang sống.
Quảng cáo
Bạn cần hỏi gì?
Câu hỏi hot cùng chủ đề
-
Đã trả lời bởi chuyên gia
250578 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
78544 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
62818 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
62213 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
53105 -
47132
-
Đã trả lời bởi chuyên gia
44037 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
41540 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
41372
