viết bài văn phân tích''nha lệ thương dân''
Quảng cáo
2 câu trả lời 522
Trong dòng chảy của văn học trào phúng Việt Nam đầu thế kỷ XX, Kép Trà nổi lên như một ngòi bút sắc sảo, chuyên bóc trần những thối nát của xã hội thực dân phong kiến. Bài thơ "Nha lệ thương dân" là một minh chứng tiêu biểu, dùng giọng điệu mỉa mai để lột trần bộ mặt đạo đức giả của đám nha lệ – những kẻ lẽ ra phải là "cha mẹ dân" nhưng lại đang tâm trục lợi trên nỗi đau đồng bào.
Ngay từ tiêu đề "Nha lệ thương dân", tác giả đã sử dụng thủ pháp mỉa mai bậc thầy. "Nha lệ" là những kẻ giúp việc nơi cửa quan, còn "thương dân" vốn là một phẩm hạnh cao quý. Tuy nhiên, qua từng câu chữ, cái "thương" ấy hiện lên đầy méo mó và nực cười.
Mở đầu bài thơ là bối cảnh thiên tai nghiệt ngã:
"Nước lụt năm nay khổ nhọc to"
Cụm từ "khổ nhọc to" không chỉ dành cho nhân dân đang gồng mình chống lũ, mà còn là lời than vãn giả dối của bọn nha lệ về "nỗi khổ" khi phải đi... thu thuế, bắt lính trong cảnh nước dâng. Sự tương phản bắt đầu xuất hiện khi nỗi đau mất mát tài sản, tính mạng của dân nghèo lại trở thành cơ hội để bọn nha lệ "thể hiện lòng thương".
Cái lòng thương ấy được cụ thể hóa bằng hành động:
"Thương dân nha lệ mới bàn nhau"
Từ "bàn nhau" gợi lên hình ảnh một cuộc họp bàn, nhưng không phải bàn cách đắp đê, cứu lụt, mà là bàn mưu tính kế để vơ vét. Sự trào phúng nằm ở chỗ chúng nhân danh lòng thương để hợp thức hóa những hành vi tham nhũng. Hình ảnh bọn chúng hiện lên không phải là những người tận tụy vì dân, mà là lũ "cá mương" háu ăn, lợi dụng lúc "nước đục thả câu".
Tiếng cười trào phúng của Kép Trà đạt đến đỉnh điểm khi ông bóc trần sự đối lập giữa lời nói và việc làm. Trong khi nhân dân "khốn khổ", "nghìn sầu muôn thảm" vì đê vỡ, vì đói kém, thì bọn nha lệ lại lấy đó làm niềm vui vì có thêm nguồn "lộc". Đây chính là tiếng cười ra nước mắt, vạch trần bản chất vô cảm, ích kỷ của tầng lớp thống trị đương thời – những kẻ "sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi".
Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng ngôn ngữ bình dị nhưng đanh thép, kết hợp nhuần nhuyễn thủ pháp tăng cấp và đối lập. Tác giả tạo ra một khoảng cách lớn giữa cái danh "thương dân" và cái thực "hại dân", khiến độc giả vừa buồn cười vừa phẫn nộ trước sự trơ trẽn của nhân vật.
"Nha lệ thương dân" không chỉ là bài ca châm biếm một bộ phận nha lệ cụ thể mà còn là bản cáo trạng đanh thép về sự mục nát của bộ máy cai trị thời bấy giờ. Qua ngòi bút của Kép Trà, chúng ta thấy được nỗi đau của dân tộc và sự cần thiết phải đấu tranh để bảo vệ lẽ phải, bảo vệ những giá trị nhân văn cao đẹp. Bài thơ vẫn vẹn nguyên giá trị cảnh tỉnh về đạo đức công vụ và lòng tự trọng của con người trong mọi thời đại.
Trong dòng chảy của văn học trào phúng Việt Nam đầu thế kỷ XX, Kép Trà nổi lên như một ngòi bút sắc sảo, chuyên bóc trần những thối nát của xã hội thực dân phong kiến. Bài thơ "Nha lệ thương dân" là một minh chứng tiêu biểu, dùng giọng điệu mỉa mai để lột trần bộ mặt đạo đức giả của đám nha lệ – những kẻ lẽ ra phải là "cha mẹ dân" nhưng lại đang tâm trục lợi trên nỗi đau đồng bào.
Ngay từ tiêu đề "Nha lệ thương dân", tác giả đã sử dụng thủ pháp mỉa mai bậc thầy. "Nha lệ" là những kẻ giúp việc nơi cửa quan, còn "thương dân" vốn là một phẩm hạnh cao quý. Tuy nhiên, qua từng câu chữ, cái "thương" ấy hiện lên đầy méo mó và nực cười.
Mở đầu bài thơ là bối cảnh thiên tai nghiệt ngã:
"Nước lụt năm nay khổ nhọc to"
Cụm từ "khổ nhọc to" không chỉ dành cho nhân dân đang gồng mình chống lũ, mà còn là lời than vãn giả dối của bọn nha lệ về "nỗi khổ" khi phải đi... thu thuế, bắt lính trong cảnh nước dâng. Sự tương phản bắt đầu xuất hiện khi nỗi đau mất mát tài sản, tính mạng của dân nghèo lại trở thành cơ hội để bọn nha lệ "thể hiện lòng thương".
Cái lòng thương ấy được cụ thể hóa bằng hành động:
"Thương dân nha lệ mới bàn nhau"
Từ "bàn nhau" gợi lên hình ảnh một cuộc họp bàn, nhưng không phải bàn cách đắp đê, cứu lụt, mà là bàn mưu tính kế để vơ vét. Sự trào phúng nằm ở chỗ chúng nhân danh lòng thương để hợp thức hóa những hành vi tham nhũng. Hình ảnh bọn chúng hiện lên không phải là những người tận tụy vì dân, mà là lũ "cá mương" háu ăn, lợi dụng lúc "nước đục thả câu".
Tiếng cười trào phúng của Kép Trà đạt đến đỉnh điểm khi ông bóc trần sự đối lập giữa lời nói và việc làm. Trong khi nhân dân "khốn khổ", "nghìn sầu muôn thảm" vì đê vỡ, vì đói kém, thì bọn nha lệ lại lấy đó làm niềm vui vì có thêm nguồn "lộc". Đây chính là tiếng cười ra nước mắt, vạch trần bản chất vô cảm, ích kỷ của tầng lớp thống trị đương thời – những kẻ "sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi".
Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng ngôn ngữ bình dị nhưng đanh thép, kết hợp nhuần nhuyễn thủ pháp tăng cấp và đối lập. Tác giả tạo ra một khoảng cách lớn giữa cái danh "thương dân" và cái thực "hại dân", khiến độc giả vừa buồn cười vừa phẫn nộ trước sự trơ trẽn của nhân vật.
"Nha lệ thương dân" không chỉ là bài ca châm biếm một bộ phận nha lệ cụ thể mà còn là bản cáo trạng đanh thép về sự mục nát của bộ máy cai trị thời bấy giờ. Qua ngòi bút của Kép Trà, chúng ta thấy được nỗi đau của dân tộc và sự cần thiết phải đấu tranh để bảo vệ lẽ phải, bảo vệ những giá trị nhân văn cao đẹp. Bài thơ vẫn vẹn nguyên giá trị cảnh tỉnh về đạo đức công vụ và lòng tự trọng của con người trong mọi thời đại.
Quảng cáo
Bạn cần hỏi gì?
Câu hỏi hot cùng chủ đề
-
Đã trả lời bởi chuyên gia
13815 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
12177 -
7887
-
Đã trả lời bởi chuyên gia
6991 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
5953 -
4527
-
Đã trả lời bởi chuyên gia
4350 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
3849 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
3215
