Quảng cáo
3 câu trả lời 435
1. Đặc điểm mạng lưới sông Hồng
Hệ thống sông Hồng có mạng lưới sông ngòi khá dày, phát triển chủ yếu ở khu vực Bắc Bộ.
Sông Hồng là sông chính, bắt nguồn từ vùng núi cao ở Trung Quốc, chảy vào Việt Nam qua tỉnh Lào Cai, sau đó đổ ra Biển Đông.
Hệ thống có nhiều phụ lưu lớn, quan trọng nhất là:
Sông Đà
Sông Lô
Sông Chảy
Các sông có hướng chảy chủ yếu Tây Bắc – Đông Nam, phù hợp với hướng địa hình vùng núi Bắc Bộ.
Lòng sông rộng, nhiều phù sa → hình thành đồng bằng sông Hồng màu mỡ, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và cư trú.
Nhìn chung, mạng lưới sông Hồng phát triển mạnh, nhiều nhánh, đóng vai trò quan trọng đối với kinh tế – xã hội miền Bắc.
2. Đặc điểm chế độ nước của hệ thống sông Hồng
Chế độ nước của sông Hồng phụ thuộc chặt chẽ vào chế độ mưa gió mùa.
Mùa lũ:
Kéo dài từ tháng 6 đến tháng 10
Lượng nước chiếm khoảng 70–80% tổng lượng nước cả năm
Dễ gây lũ lớn, đặc biệt vào các tháng mưa nhiều
Mùa cạn:
Từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau
Lượng nước ít, gây khó khăn cho tưới tiêu và sinh hoạt
Biên độ nước lớn:
Mực nước giữa mùa lũ và mùa cạn chênh lệch lớn
Lũ lên nhanh, rút nhanh do địa hình dốc ở thượng nguồn
Vì vậy, sông Hồng vừa cung cấp nước, phù sa, thủy điện, vừa tiềm ẩn nguy cơ lũ lụt, cần hệ thống đê điều để phòng chống.
Hệ thống sông Hồng có mạng lưới sông dày, nhiều phụ lưu lớn, chế độ nước phân hóa rõ rệt theo mùa. Đây là hệ thống sông quan trọng bậc nhất ở miền Bắc Việt Nam, có ý nghĩa lớn trong phát triển kinh tế nhưng cũng đòi hỏi quản lí chặt chẽ để hạn chế thiên tai.
Hình dạng mạng lưới: Có dạng hình nan quạt. Các phụ lưu chính như sông Đà (bên phải) và sông Lô (bên trái) hội tụ với dòng chính sông Thao tại Việt Trì (Phú Thọ), sau đó chảy về đồng bằng và tỏa ra các chi lưu để đổ ra biển.
Mật độ sông ngòi: Có mật độ mạng lưới sông dày đặc.
Độ dốc: Sông có độ dốc lớn ở phần thượng lưu (miền núi) với nhiều thác ghềnh, nhưng khi về đến đồng bằng thì lòng sông mở rộng, dòng chảy chậm và uốn lượn.
Hướng dòng chảy: Chủ yếu chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, đổ ra Vịnh Bắc Bộ qua nhiều cửa sông chính (như cửa Ba Lạt, cửa Trà Lý, cửa Lạch Giang...).
2. Đặc điểm chế độ nước
Chế độ nước của sông Hồng phân hóa rõ rệt theo hai mùa, tương ứng với mùa mưa và mùa khô của khí hậu miền Bắc:
Mùa lũ:Kéo dài 5 tháng (từ tháng 6 đến tháng 10).
Lượng nước mùa lũ chiếm khoảng 70 - 80% tổng lượng nước cả năm.
Đặc điểm: Do mạng lưới sông có dạng nan quạt, nước lũ từ các phụ lưu tập trung rất nhanh về dòng chính, dễ gây ra lũ quét ở thượng nguồn và lũ lụt lớn ở hạ du.
Mùa cạn:Kéo dài 7 tháng (từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau).
Lượng nước rất thấp, chỉ chiếm khoảng 20 - 30% tổng lượng nước cả năm.
Hậu quả: Gây khó khăn cho giao thông đường thủy và thiếu nước cho sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt.
Hàm lượng phù sa: Sông Hồng có lượng phù sa rất lớn (trung bình khoảng 100 triệu tấn/năm), làm cho nước sông quanh năm có màu đỏ ngầu và bồi đắp nên Đồng bằng sông Hồng màu mỡ.
3. Vai trò của các hồ thủy điện (Lưu ý cho năm 2025)
Đến năm 2025, với hệ thống các đập thủy điện lớn ở thượng nguồn (như Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu, Tuyên Quang), chế độ nước sông Hồng đã được điều tiết đáng kể:
Giúp cắt lũ vào mùa mưa, giảm nguy cơ ngập lụt cho đồng bằng.
Xả nước tiếp ứng cho hạ du vào mùa khô để phục vụ tưới tiêu và đẩy mặn.
1. Đặc điểm mạng lưới sông
Hình dạng mạng lưới: Có dạng hình nan quạt. Các phụ lưu chính như sông Đà (bên phải) và sông Lô (bên trái) hội tụ với dòng chính sông Thao tại Việt Trì (Phú Thọ), sau đó chảy về đồng bằng và tỏa ra các chi lưu để đổ ra biển.
Mật độ sông ngòi: Có mật độ mạng lưới sông dày đặc.
Độ dốc: Sông có độ dốc lớn ở phần thượng lưu (miền núi) với nhiều thác ghềnh, nhưng khi về đến đồng bằng thì lòng sông mở rộng, dòng chảy chậm và uốn lượn.
Hướng dòng chảy: Chủ yếu chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, đổ ra Vịnh Bắc Bộ qua nhiều cửa sông chính (như cửa Ba Lạt, cửa Trà Lý, cửa Lạch Giang...).
2. Đặc điểm chế độ nước
Chế độ nước của sông Hồng phân hóa rõ rệt theo hai mùa, tương ứng với mùa mưa và mùa khô của khí hậu miền Bắc:
Mùa lũ:Kéo dài 5 tháng (từ tháng 6 đến tháng 10).
Lượng nước mùa lũ chiếm khoảng 70 - 80% tổng lượng nước cả năm.
Đặc điểm: Do mạng lưới sông có dạng nan quạt, nước lũ từ các phụ lưu tập trung rất nhanh về dòng chính, dễ gây ra lũ quét ở thượng nguồn và lũ lụt lớn ở hạ du.
Mùa cạn:Kéo dài 7 tháng (từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau).
Lượng nước rất thấp, chỉ chiếm khoảng 20 - 30% tổng lượng nước cả năm.
Hậu quả: Gây khó khăn cho giao thông đường thủy và thiếu nước cho sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt.
Hàm lượng phù sa: Sông Hồng có lượng phù sa rất lớn (trung bình khoảng 100 triệu tấn/năm), làm cho nước sông quanh năm có màu đỏ ngầu và bồi đắp nên Đồng bằng sông Hồng màu mỡ.
3. Vai trò của các hồ thủy điện (Lưu ý cho năm 2025)
Đến năm 2025, với hệ thống các đập thủy điện lớn ở thượng nguồn (như Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu, Tuyên Quang), chế độ nước sông Hồng đã được điều tiết đáng kể:
Giúp cắt lũ vào mùa mưa, giảm nguy cơ ngập lụt cho đồng bằng.
Xả nước tiếp ứng cho hạ du vào mùa khô để phục vụ tưới tiêu và đẩy mặn.
Quảng cáo
Bạn cần hỏi gì?
Câu hỏi hot cùng chủ đề
-
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
61007 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
43523 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
35489 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
34080 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
30582 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
24436
