......Ý nhi lại gáy trước nhà líu lo.
Viết bài văn phân tích đoạn thơ trên của bài chính phụ ngâm
Quảng cáo
6 câu trả lời 375
Trong nền văn học trung đại Việt Nam, Chinh phụ ngâm là một áng thơ trữ tình đặc sắc, thể hiện sâu sắc tiếng nói tâm hồn của người phụ nữ trong thời loạn. Tác phẩm vốn được Đặng Trần Côn viết bằng chữ Hán, sau đó được Đoàn Thị Điểm dịch ra chữ Nôm, trở thành một bản ngâm bất hủ. Đoạn thơ “Nỗi lòng biết ngỏ cùng ai, / Hoa khuê các, én liền oanh lại gáy trước nhà líu lo” nằm ở phần người chinh phụ sống trong cảnh cô đơn, sầu muộn khi chồng ra trận. Chỉ bằng vài câu thơ ngắn, tác giả đã khắc họa nỗi cô đơn tột cùng và tâm trạng u hoài, bế tắc của người phụ nữ cô phòng trong thời chiến.
Trước hết, câu mở đầu “Nỗi lòng biết ngỏ cùng ai” là một tiếng than nghẹn ngào, đau đáu. Chỉ bảy chữ thôi mà chứa cả một trời tâm sự. Cụm từ “nỗi lòng” gợi ra những tâm tư sâu kín, những niềm thương, nỗi nhớ, những mong chờ và lo lắng chẳng thể nói thành lời. Còn “biết ngỏ cùng ai” lại là một câu hỏi tu từ đầy xót xa. “Ngỏ” nghĩa là giãi bày, là tâm sự; nhưng “biết ngỏ cùng ai” đồng nghĩa với “chẳng còn ai để nói”. Trong không gian vắng lặng của khuê phòng, người chinh phụ không có tri âm tri kỷ, không có chồng bên cạnh, chỉ còn lại tiếng lòng vang vọng trong cô tịch. Câu thơ vì thế mà như một tiếng thở dài, một lời tự sự bật ra từ nỗi cô đơn đến tột cùng của người phụ nữ chờ chồng.
Nếu câu thơ đầu là tiếng lòng, thì câu thứ hai lại mở ra một không gian đối lập giữa con người và thiên nhiên:
“Hoa khuê các, én liền oanh lại gáy trước nhà líu lo.”
Thiên nhiên dường như vẫn tràn đầy sức sống: “hoa” nở trong “khuê các”, “én liền oanh lại” ríu rít “líu lo”. Mọi vật vẫn tiếp diễn theo quy luật của thời gian – mùa xuân đến, chim hót, hoa nở, cảnh vật tưng bừng sức sống. Nhưng chính trong khung cảnh ấy, nỗi cô đơn của người chinh phụ lại càng thêm sâu sắc. Tác giả đã dùng biện pháp đối lập và nhân hóa để làm nổi bật cảm xúc con người: cảnh thì vui mà người thì buồn, thiên nhiên rộn ràng mà lòng người lại trống trải. Âm thanh “líu lo” tưởng là vui, nhưng khi vang lên giữa căn phòng lặng lẽ, lại trở thành tiếng gợi nhớ, gợi buồn, như nhắc người phụ nữ về những ngày xưa hạnh phúc khi có chồng bên cạnh.
Hình ảnh “hoa khuê các” cũng mang ý nghĩa biểu tượng. “Khuê các” vốn là nơi ở của người phụ nữ khuê môn, tượng trưng cho không gian kín đáo, sang trọng nhưng cũng đầy cô quạnh. Hoa nở trong khuê phòng – vẻ đẹp bị giam cầm, không ai thưởng thức, như chính người chinh phụ đang tàn phai tuổi xuân trong cô đơn chờ đợi. Cảnh vật dường như vẫn đẹp, nhưng là cái đẹp buồn, cái đẹp bị phủ bóng u sầu của nỗi chia ly.
Nhìn sâu hơn, đoạn thơ này không chỉ là tiếng lòng của riêng người chinh phụ, mà còn là tiếng nói chung cho thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến thời chiến. Họ bị giam cầm trong khuê phòng, không được tự do quyết định cuộc đời, và khi chồng ra trận, chỉ biết gửi gắm nỗi nhớ trong những đêm dài cô quạnh. Dẫu có hoa nở, chim hót, thì lòng vẫn không thể vui. Cái buồn ấy không chỉ vì xa cách, mà còn vì nỗi trống trải tinh thần, vì không biết tương lai sẽ ra sao, chồng còn sống hay đã mất, ngày đoàn tụ còn xa hay đã vĩnh viễn chia lìa.
Bút pháp của tác giả trong hai câu thơ thật tinh tế. Ông đã vận dụng nghệ thuật tả cảnh ngụ tình – mượn cảnh vật bên ngoài để phản chiếu tâm trạng bên trong. Thiên nhiên vốn vô tri, nhưng qua ánh nhìn của người chinh phụ, nó trở nên có hồn, biết chia sẻ và đồng cảm. Cảnh vật không còn là nền trang trí mà trở thành tấm gương phản chiếu nỗi lòng. Nhờ đó, cảm xúc trong thơ không hề ồn ào, mà thấm sâu, lặng lẽ lan tỏa như nỗi sầu rỉ rả không dứt.
Qua đoạn thơ, ta càng thấm thía giá trị nhân đạo sâu sắc của Chinh phụ ngâm. Tác phẩm không chỉ lên án chiến tranh phi nghĩa đã chia cắt hạnh phúc lứa đôi, mà còn cảm thông sâu sắc với thân phận người phụ nữ. Tác giả đã cho họ được lên tiếng, được bộc bạch tâm sự, điều mà trong xã hội phong kiến xưa, phụ nữ ít khi được phép làm. Đó là sự trân trọng con người, trân trọng tình cảm, là tiếng nói yêu thương, cảm thông vượt thời đại.
Tóm lại, chỉ hai câu thơ ngắn mà hàm chứa biết bao nỗi niềm: cô đơn, khắc khoải, buồn thương, hy vọng và tuyệt vọng đan xen. “Nỗi lòng biết ngỏ cùng ai” là lời than cho phận người cô độc, còn “hoa khuê các, én liền oanh lại” là khung cảnh đẹp mà buồn – cái buồn của người còn sống nhưng lòng như chết. Bằng nghệ thuật tả cảnh ngụ tình tinh tế, giọng điệu tha thiết, Chinh phụ ngâm đã khắc họa thành công tâm trạng người phụ nữ cô đơn trong chiến tranh, để rồi hàng trăm năm sau, người đọc vẫn còn rung động trước nỗi lòng ấy – một nỗi lòng “biết ngỏ cùng ai”.
Dưới đây là bài phân tích đoạn thơ trên của bài Chính phụ ngâm:
---
**Phân tích đoạn thơ:**
*"Nỗi lòng biết ngỏ cùng ai, ......
......Ý nhi lại gáy trước nhà líu lo."*
**1. Giới thiệu đoạn thơ:**
Đoạn thơ là một phần trong bài Chính phụ ngâm, thể hiện tâm trạng của người phụ nữ trong cảnh chia ly, mong muốn gửi gắm nỗi lòng và sự trông chờ người thân trở về.
**2. Nội dung và ý nghĩa của đoạn thơ:**
- Câu đầu: *"Nỗi lòng biết ngỏ cùng ai"*, thể hiện sự day dứt, nỗi lòng chất chứa mà không biết chia sẻ cùng ai. Người phụ nữ cảm thấy cô đơn, bối rối khi gặp những suy nghĩ, nỗi niềm sâu kín trong lòng nhưng không có ai để tâm sự, chia sẻ.
- Câu tiếp theo: *"Ý nhi lại gáy trước nhà líu lo"*, mô tả hình ảnh cô bé (Ý nhi) đang đứng trước nhà, líu lo kể chuyện, trò chuyện. Hình ảnh này mang ý nghĩa tượng trưng cho sự trong sáng, hồn nhiên, đồng thời cũng như một lời nhắc nhở về cuộc sống bình dị, nơi có những người thân yêu luôn bên cạnh.
**3. Các đặc điểm nghệ thuật:**
- Câu thơ ngắn gọn, súc tích, giàu cảm xúc, thể hiện rõ tâm trạng trống trải, mong chờ của người phụ nữ.
- Hình ảnh cô bé líu lo trước nhà tạo sự đối lập giữa nỗi lòng trầm lặng, day dứt của người lớn và sự vô tư, vui tươi của trẻ nhỏ.
- Câu thơ dùng hình ảnh sinh động, chân thực, dễ cảm nhận và gợi ra nhiều cảm xúc trong lòng người đọc.
**4. Ý nghĩa tổng thể:**
Đoạn thơ như một bức tranh về cuộc sống, vừa thể hiện nỗi lòng sâu kín của người phụ nữ khi xa chồng, xa người thân, vừa nổi bật hình ảnh bình dị, chân thực về cuộc sống hàng ngày. Nó giúp người đọc cảm nhận rõ nét hơn về những cảm xúc, tâm trạng của các nhân vật trong bài thơ, đồng thời cũng thể hiện sự gắn bó keo sơn của gia đình, của cuộc sống làng quê.
---
Bạn có muốn tôi giúp bạn viết thành một bài văn hoàn chỉnh hoặc mở rộng hơn không?
“Nỗi lòng biết ngỏ cùng ai,
Thiếp trong cánh cửa chàng ngoài chân mây.
Trong cửa này đã đành phận thiếp,
Ngoài mây kia há kiếp chàng vay?
Những mong cá nước vui vầy,
Nào ngờ đôi ngả nước mây cách vời.
Thiếp chẳng tưởng ra người chinh phụ,
Chàng há từng học lũ vương tôn.
Cớ sao cách trở nước non,
Khiến người thôi sớm thôi hôm những sầu?
Ý nhi lại gáy trước nhà líu lo.”
“Nỗi lòng biết ngỏ cùng ai,
Thiếp trong cánh cửa chàng ngoài chân mây.
Trong cửa này đã đành phận thiếp,
Ngoài mây kia há kiếp chàng vay?
Những mong cá nước vui vầy,
Nào ngờ đôi ngả nước mây cách vời.
Thiếp chẳng tưởng ra người chinh phụ,
Chàng há từng học lũ vương tôn.
Cớ sao cách trở nước non,
Khiến người thôi sớm thôi hôm những sầu?
Ý nhi lại gáy trước nhà líu lo.”
Phân tích đoạn này giúp với ạ
Quảng cáo
Bạn cần hỏi gì?
Câu hỏi hot cùng chủ đề
-
Đã trả lời bởi chuyên gia
247609 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
76891 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
61098 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
60965 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
52036 -
46317
-
Đã trả lời bởi chuyên gia
43386 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
40690 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
39281
