Quảng cáo
2 câu trả lời 716
So sánh hai tác phẩm Chí Phèo và Lão Hạc của Nam Cao
Nam Cao là nhà văn hiện thực xuất sắc của văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945. Ông không chỉ phản ánh hiện thực nông thôn nghèo khổ mà còn thể hiện tình thương sâu sắc đối với con người. Hai tác phẩm tiêu biểu của ông là Chí Phèo và Lão Hạc. Dù viết về những số phận khác nhau, cả hai tác phẩm đều thể hiện cái nhìn nhân đạo độc đáo của Nam Cao.
Trong Chí Phèo, Nam Cao xây dựng nhân vật điển hình cho bi kịch của người nông dân bị tha hóa. Chí Phèo vốn là một anh canh điền hiền lành, nhưng do sự tàn bạo của cường hào và xã hội thực dân phong kiến, hắn bị đẩy vào tù, ra tù thì trở thành “con quỷ dữ của làng Vũ Đại”. Hắn mất cả nhân hình lẫn nhân tính, trở thành kẻ rạch mặt ăn vạ, sống trong say xỉn và tội lỗi. Thế nhưng, ẩn sâu trong con người ấy vẫn là khát vọng làm người lương thiện. Chi tiết Chí Phèo gặp Thị Nở và mơ về một gia đình nhỏ đã cho thấy phần “người” chưa bao giờ mất hẳn trong hắn. Bi kịch đau đớn nhất của Chí Phèo là muốn làm người nhưng không thể trở lại làm người, để rồi kết thúc bằng cái chết bi thương.
Trong Lão Hạc, Nam Cao lại khắc họa số phận một nông dân hiền lành, giàu lòng tự trọng nhưng bị cái nghèo đẩy vào bước đường cùng. Lão Hạc yêu thương con hết mực, vì muốn giữ lại mảnh vườn cho con, lão thắt lưng buộc bụng, sống khổ hạnh, thậm chí đau đớn bán đi con chó Vàng – kỷ vật gắn bó. Cuối cùng, lão chọn cái chết dữ dội bằng bả chó để giữ gìn nhân phẩm và không trở thành gánh nặng cho người khác. Nhân vật Lão Hạc là minh chứng điển hình cho phẩm chất cao đẹp và sự bi thương của người nông dân trước Cách mạng.
So sánh hai tác phẩm, có thể thấy điểm chung nổi bật là đều phản ánh hiện thực xã hội tàn nhẫn đã đẩy người nông dân vào bi kịch. Nam Cao vừa tố cáo xã hội bất công vừa bày tỏ niềm thương cảm với số phận con người. Tuy nhiên, Chí Phèo nhấn mạnh vào bi kịch bị tha hóa nhân tính, còn Lão Hạc tập trung vào bi kịch giữ gìn nhân phẩm trong nghèo đói. Một bên là sự phản kháng trong tuyệt vọng, một bên là sự hy sinh trong lặng lẽ. Nghệ thuật xây dựng nhân vật của Nam Cao cũng rất tài tình: Chí Phèo hiện lên dữ dội, phức tạp và đầy mâu thuẫn; Lão Hạc thì hiền lành, chất phác, giàu nội tâm.
Từ hai tác phẩm, người đọc nhận ra giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc trong ngòi bút Nam Cao. Nhà văn không chỉ phơi bày bộ mặt thối nát của xã hội cũ mà còn trân trọng, ca ngợi khát vọng sống lương thiện, nhân phẩm trong sáng của con người.
Chí Phèo và Lão Hạc vì thế trở thành hai tác phẩm tiêu biểu, hai mảnh đời khác nhau nhưng cùng góp tiếng nói lay động lòng người, khiến ta thêm yêu thương, trân trọng những số phận bất hạnh và càng tin vào giá trị nhân bản.
Còn mùa thu hiện tại là mùa thu sau Cách mạng tháng Tám mùa thu ở chiến khu Việt Bắc, lúc này đang là chiến khu tự do, căn cứ địa của kháng chiến chống Pháp, nơi Bác Hồ, Chính phủ kháng chiến đang điều khiển cuộc chiến tranh thần thánh của dân tộc. Nguyễn Đình Thi đã đến với mùa thu này bằng một niềm vui tràn ngập, niềm vui của người tự thấy mình được tự do, dân tộc được tự do, ít ra là ở chiến khu này. Đang trong tâm trạng vui, nên tác giả thấy cảnh thu hiện lên với vẻ đẹp tươi sáng, đầy sức sống, đầy âm thanh màu sắc rộn rã, tươi vui. Bầu trời như thay áo mới, cảnh vật như hồi sinh, những âm thanh của cảnh vật và cuộc sống con người cũng ríu ran ríu rít đầy niềm vui.
Và không gian mùa thu như trải dài, mở rộng theo những con đường, dòng sông, đồng lúa, cánh rừng trùng điệp của đất nước.
Cảm hứng của Nguyễn Đình Thi trong bài Đất nước là cảm hứng tự hào làm chủ của một nghệ sĩ đang tham gia trực tiếp vào sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc độc lập tự do. Trong đoạn thơ nói về mùa thu Hà Nội 1946, tác giả có thể hiện tâm trạng buồn nhưng đó là nỗi buồn của một người tha thiết yêu quê hương mà phải tạm biệt quê hương lên đường vì nghĩa lớn. Nỗi buồn này khác nỗi buồn của Xuân Diệu.
Cảm hứng chủ đạo của nhà thơ vẫn là niềm vui, niềm tự hào về đất nước giang sơn gấm vóc, về độc lập chủ quyền vì vậy đoạn thơ viết về mùa thu chiến khu Việt Bắc vang lên sang sảng tự hào đầy kiêu hãnh.
Cùng viết về mùa thu mà Xuân Diệu chỉ thấy một mùa thu rất đẹp mà rất buồn. Còn Nguyễn Đình Thi lại tiếp nhận một mùa thu trong trẻo, đầy âm thanh, màu sắc, đầy niềm vui, sức sống của cảnh vật và con người. Điều đó, xét cho cùng có nguyên nhân thời đại chi phối hồn thơ. Chính cảm xúc về thời đại đã quy định cảm hứng, qui định tình thu của nhà thơ và từ cảm hứng, tình thơ của nhà thơ lại qui định cảnh sắc mùa thu trong thơ.
Trước cách mạng, Xuân Diệu sống trong cảnh ngộ của người dân nô lệ. Nỗi buồn của người dân mất nước đã tạo nên cách nhìn, cách cảm của thi nhân trước mùa thu. Từ sau cách mạng Xuân Diệu đã đến với đất nước bằng niềm vui, niềm tự hào nên cảnh thu cũng đã thay đổi.
Quảng cáo
Bạn cần hỏi gì?
Câu hỏi hot cùng chủ đề
-
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
96044 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
57556 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
49414 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
44863 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
40133 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
37352 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
37151 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
34834 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
31654 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
30795
