Quảng cáo
2 câu trả lời 323
Khi nhắc đến các làng nghề truyền thống của Việt Nam thì chắc hẳn ai ai cũng sẽ nhớ đến chiếc nón lá.
Xuất hiện từ thời nhà Trần, nón lá được biết đến như một vật dụng che mưa che nắng vô cùng hưu ích cho người dân và trải qua hàng trăm năm, ngày nay nón lá đã trở thành 1 biểu tượng cho vẻ đẹp người phụ nữ Việt Nam.
Có rất nhiều loại nón lá mang đặc trưng bởi bàn tay khéo léo của nghệ nhân từng vùng như nón Gò Găng (sản xuất ở Bình Định); nón cụ (loại nón thường xuất hiện trong các đám cưới miền Nam Việt Nam); nón ba tầm (loại nón phổ biến ở miền Bắc Việt Nam); nón bài thơ (ở Huế, là thứ nón lá trắng và mỏng có lộng hình hoặc một vài câu thơ); nón dấu (nón có chóp nhọn của lính thú thời phong kiến); nón rơm (nón làm bằng cọng rơm ép cứng),... nhưng thông dụng nhất vẫn là nón hình chóp.
Để làm ra một chiếc nón lá xinh đẹp cũng phải trải qua rất nhiều quy trình như: phơi lá, rẽ lá, là lá, vức vòng, dán nón, khâu nón, cạp nón, lồng nhôi… Và khâu nào cũng đòi hỏi sự khéo léo, tỉ mỉ của mỗi người thợ.
Khâu đầu tiên là chọn mua lá và sau đó phải đem phơi vài ngày để lá chuyển từ màu xanh sang trắng mới có thể sử dụng được.
Lá khi đã phơi khô sẽ được vò trong cát và tước nhỏ hay còn gọi là rẽ lá. Tiếp đến là công đoạn đem lá đi là phẳng. Nếu chỉ nhìn thôi, ta tưởng rằng rất đơn giản nhưng thực ra khâu này quyết định rất nhiều đến chất lượng nón. Dụng cụ là lá một chiếc lưỡi cày được nung nóng để miết lá. Miết làm sao cho tấm lá thật phẳng, nhẵn mà không bị giòn, bị rách và quan trọng là phải canh được độ nóng sao cho lá không bị cháy và không bị non.
Vức vòng hay còn gọi là làm khung nón cũng là một công đoạn quan trọng. Vòng nón được làm bằng cật nứa vót nhỏ đều, khi nối bắt buộc phải tròn và không có vết. Khác với các loại nón ở nơi khác, nón Làng Chuông chỉ có 16 vòng giúp cho nón có độ bền chắc nhưng vẫn giữ được sự mềm mại.
Vòng nón sau khi hoàn thành sẽ được xếp theo 3 lớp bao gồm 2 lớp lá lụi và một lớp mo nứa ở giữa.
Khâu nón (thắt nón) được coi là công đoạn rất khó đòi hỏi sự khéo léo của mỗi người bởi nếu không khéo lá sẽ bị rách. Điều quan trọng nữa là mũi khâu yêu cầu phải ngắn, lỗ nhỏ thì chiếc nón mới tròn, khít, mịn từ mép lá đến đường khâu. Cái tài của người thợ làng Chuông là các múi nối sợi móc khi khâu được dấu kín và khi nhìn vào chiếc nón chỉ thấy đều tăm tắp những mũi khâu… Công đoạn cạp nón hay còn gọi là nức nón là công đoạn hoàn tất việc khâu.
Cuối cùng người nghệ nhân sẽ dùng những sợi chỉ nhiều màu sắc như: đỏ, xanh, trắng…để trang trí và tiến hành lồng nhôi để buộc quai nón.
Để chiếc nón bền đẹp hơn, người ta sẽ phết phía ngoài nón một lớp dầu thông mỏng để tránh thấm nước.
Trải qua hàng trăm năm lịch sử, ngày nay nghề làm nón vẫn được lưu giữ và bảo tồn như Làng Chuông (Quốc Oai - Hà Tây) giúp tạo nên nét đẹp văn hóa cổ truyền của dân tộc Việt Nam.
Khi nhắc đến các làng nghề truyền thống của Việt Nam thì chắc hẳn ai ai cũng sẽ nhớ đến chiếc nón lá.
Xuất hiện từ thời nhà Trần, nón lá được biết đến như một vật dụng che mưa che nắng vô cùng hưu ích cho người dân và trải qua hàng trăm năm, ngày nay nón lá đã trở thành 1 biểu tượng cho vẻ đẹp người phụ nữ Việt Nam.
Có rất nhiều loại nón lá mang đặc trưng bởi bàn tay khéo léo của nghệ nhân từng vùng như nón Gò Găng (sản xuất ở Bình Định); nón cụ (loại nón thường xuất hiện trong các đám cưới miền Nam Việt Nam); nón ba tầm (loại nón phổ biến ở miền Bắc Việt Nam); nón bài thơ (ở Huế, là thứ nón lá trắng và mỏng có lộng hình hoặc một vài câu thơ); nón dấu (nón có chóp nhọn của lính thú thời phong kiến); nón rơm (nón làm bằng cọng rơm ép cứng),... nhưng thông dụng nhất vẫn là nón hình chóp.
Để làm ra một chiếc nón lá xinh đẹp cũng phải trải qua rất nhiều quy trình như: phơi lá, rẽ lá, là lá, vức vòng, dán nón, khâu nón, cạp nón, lồng nhôi… Và khâu nào cũng đòi hỏi sự khéo léo, tỉ mỉ của mỗi người thợ.
Khâu đầu tiên là chọn mua lá và sau đó phải đem phơi vài ngày để lá chuyển từ màu xanh sang trắng mới có thể sử dụng được.
Lá khi đã phơi khô sẽ được vò trong cát và tước nhỏ hay còn gọi là rẽ lá. Tiếp đến là công đoạn đem lá đi là phẳng. Nếu chỉ nhìn thôi, ta tưởng rằng rất đơn giản nhưng thực ra khâu này quyết định rất nhiều đến chất lượng nón. Dụng cụ là lá một chiếc lưỡi cày được nung nóng để miết lá. Miết làm sao cho tấm lá thật phẳng, nhẵn mà không bị giòn, bị rách và quan trọng là phải canh được độ nóng sao cho lá không bị cháy và không bị non.
Vức vòng hay còn gọi là làm khung nón cũng là một công đoạn quan trọng. Vòng nón được làm bằng cật nứa vót nhỏ đều, khi nối bắt buộc phải tròn và không có vết. Khác với các loại nón ở nơi khác, nón Làng Chuông chỉ có 16 vòng giúp cho nón có độ bền chắc nhưng vẫn giữ được sự mềm mại.
Vòng nón sau khi hoàn thành sẽ được xếp theo 3 lớp bao gồm 2 lớp lá lụi và một lớp mo nứa ở giữa.
Khâu nón (thắt nón) được coi là công đoạn rất khó đòi hỏi sự khéo léo của mỗi người bởi nếu không khéo lá sẽ bị rách. Điều quan trọng nữa là mũi khâu yêu cầu phải ngắn, lỗ nhỏ thì chiếc nón mới tròn, khít, mịn từ mép lá đến đường khâu. Cái tài của người thợ làng Chuông là các múi nối sợi móc khi khâu được dấu kín và khi nhìn vào chiếc nón chỉ thấy đều tăm tắp những mũi khâu… Công đoạn cạp nón hay còn gọi là nức nón là công đoạn hoàn tất việc khâu.
Cuối cùng người nghệ nhân sẽ dùng những sợi chỉ nhiều màu sắc như: đỏ, xanh, trắng…để trang trí và tiến hành lồng nhôi để buộc quai nón.
Để chiếc nón bền đẹp hơn, người ta sẽ phết phía ngoài nón một lớp dầu thông mỏng để tránh thấm nước.
Trải qua hàng trăm năm lịch sử, ngày nay nghề làm nón vẫn được lưu giữ và bảo tồn như Làng Chuông (Quốc Oai - Hà Tây) giúp tạo nên nét đẹp văn hóa cổ truyền của dân tộc Việt Nam.
Quảng cáo
Bạn cần hỏi gì?
Câu hỏi hot cùng chủ đề
-
Đã trả lời bởi chuyên gia
251658 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
79323 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
63457 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
62716 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
53514 -
47515
-
Đã trả lời bởi chuyên gia
44330 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
42142 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
41946
