Quảng cáo
2 câu trả lời 386
Chúng ta không chỉ biết đến Lê Hữu Trác không chỉ là một nhà nghiên cứu y học nổi tiếng mà chúng ta còn biết đến ông với tư cách là một vị quan triều đình giỏi binh thư võ lược và là một nhà văn tài ba. Ông có biệt danh là Hải thượng lãn ông. Các tác phẩm của ông mang đậm màu sắc của y học nhưng đồng thời nó cũng mang những giá trị văn học tiêu biểu. Thượng kinh kí sự là tập kí sự nổi tiếng trong cuộc đời Lê Hữu Trác. Tác phẩm kể về cuộc sống xa hoa trong phủ chúa Trịnh và quyền uy thế lực nhà chúa cũng như những điều mắt thấy tai nghe nhân dịp được chúa Trịnh Sâm triệu vào chữa bệnh. Đoạn trích vào phủ chúa Trịnh không chỉ miêu tả cuộc sống xa hoa ở phủ chúa, mà còn thể hiện rõ nét tâm hồn và nhân cách của vị lương y tài hoa đức độ này.
Tác phẩm viết theo thể kí sự. Kí là một thể văn xuôi tự sự khá phát triển từ thời kì văn học trung đại. Tác phẩm kí thường có cốt truyện là sự thực cuộc sống. Người viết kí trung thành với sự thật, khai thác sự thật theo quan điểm cá nhân. Kí là thể văn xuôi tự sự có sự kết hợp nhuần nhuy
#Linh
“Con ơi nhớ lấy câu này
Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan”.
Bọn vua chúa phong kiến đa số là những tên cướp ngày. Chúng cướp của nhân dân một cách công khai bằng đủ thủ đoạn tàn ác để vinh thân phì gia, để hưởng thụ cuộc sống. Lên Hữu Trác, một danh y lỗi lạc, một văn nhân tài ba của nước ta ở thế kỉ XVIII đã một phần nào nói lên được thực trạng này qua tác phẩm Thượng kinh kí sự. Trong kí sự này, đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh có một giá trị hiện thực sâu sắc khi phản ánh được cuộc sống xa hoa, giàu sang, quyền uy tột bậc của nhà chúa.
Thế nào là giá trị hiện thực? đây là cách viết văn mô tả cuộc sống thực của một nhân vật hoặc một tầng lớp xã hội. Cách viết này có giá trị giúp người đọc thấy hiện ra trước mắt mình hình ảnh về cuộc sống trong một giai đoạn lịch sử, từ đó gợi lên những cảm nghĩ để có những nhận xét, đánh giá nhất định. Giá trị hiện thực của đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh là đã vẽ ra một bức tranh sinh động về cuộc sống quá xa hoa, quyền quý đến mức một người từng sống ở kinh thành như Lên Hữu Trác đã không ít lần phải sửng sốt, ngạc nhiên. Nó còn dựng lên trước mắt người đọc chân tường của một tầng lớp thống trị ốm yếu, thiếu sinh khí, sống sau những lớp mà che tăm tối, xa cách hẳn với cuộc sống lành mạnh, tự nhiên. Nhất là nó cho chúng ta nhận ra diện mạo của một chế độ xã hội phi lí, đáng bị đào thải. Để phản ánh chân thực hiện thực, tác giả đã dùng để kí sự. Kí là tên gọi chung cho một nhóm thể loại có tính giao thoa giữa báo chí với văn học. Kí viết về cuộc đời thực tại, viết về người thật, việc thật. Người viết kí miêu tả thực tại theo tinh thần của sử học. Tác giả kí coi trọng việc thuật lại có ngọn nghành và không bao giờ quên miêu tả khung cảnh.
Trước hết chúng ta tìm hiểu hoàn cảnh tác giả vào Trịnh phủ. Tác giả ghi chép lại những điều ông mắt thấy tai nghe trong một chuyến đi từ Hương Sơn (Hà Tĩnh), nơi ông sống ẩn dật, đến kinh đô Thăng Long, vào phủ Chúa theo “thánh chỉ” để chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán. Tác giả cho ta thấy quang cảnh ở kinh đô, quyền uy thế lực của nhà chúa và cuộc sống xa hoa trong phủ chúa Trịnh, những điều Lê Hữu Trác mắt thấy tai nghe trong nhiều chuyến đi từ Hương Sơn ra Thăng Long đã thôi thúc ông cầm bút. Năm 1783 ông viết xong tập Thượng kinh kí sự bằng chữ Hán. Tập kí sự này là một tác phẩm văn học đích thực, đặc sắc, có giá trị hiện thực cao.
Đầu tiên giá trị hiện thực được thể hiện qua nét vẽ của một bức tranh sinh động về cuộc sống quá xa hoa, quyền quý của vua quan ở phủ chúa. Theo chân tác giả, người đọc như tận mắt trong thấy quanh cảnh ở phủ chúa cực kì xa hoa, tráng lệ – không ở đâu sánh bằng. Muốn vào phủ, ta phải qua nhiều lần cửa với những hành lang quanh co nối tiếp nhau, ở mỗi cửa đều có vệ sĩ canh giác. Khuôn viên phủ chúa rộng, có trạm dừng chân được kiến trúc thật kiểu cách, với cảnh trí thiên nhiên kì lạ. Trong vườn, chim kêu ríu rít, anh hoa đua thắm, gió đưa thoang thoảng mùi hương. Bên trong là những Đại đường, gác tía với kiệu son, võng điều. Đồ dùng của chúa được sơn son thiếp vàng, đồ dùng tiếp khách ăn uống đều là mâm vàng, chén bạc, của ngon vật lạ … Đến nội cung của thế tử phải trải qua sáu lần trướng gấm. Nơi ở của thế tử rất sang trọng, có sập thếp vàng, ghế rồng bày nệm ấm, xung quanh lấp lánh, mùi thơm ngào ngạt … Trước cảnh tưởng xa hoa này, Lê Hữu Trác đã phải cảm tác:
“Lầu từng gác vẽ tung mây,
Rèm châu, hiên ngọc, bóng mai ánh vào
Hoa cung thoảng ngạt ngào đưa tới
Vườn ngự nghe vẹt nói đòi phen”.
Và còn hơn thế nữa! tác giả vốn con quan, sinh trưởng ở chốn phồn hoa, chỗ nào trong cấm thành cũng từng biết. Duy chỉ có những việc trong phủ chúa là chưa biết đến … nay mới hay cái cảnh giàu sang của phủ chúa thực khác hẳn người thường, không thể tượng tượng nổi, đến nỗi làm cho ai cũng phải sửng sốt, ngạc nhiên:
“Cả trời Nam sang nhất là đây!”
Hoặc
“Quê mùa, cung cấm chưa quen,
Khác gì ngư phủ đào nguyên thuở nào!”
Tiếp theo, giá trị hiện thực còn được thể hiện qua việc tác giả dựng lên trước mắt người đọc chân tướng của một tầng lớp thống trị ốm yếu, thiếu sinh khí, sống sau những lớp màn che tăm tối, xa cách hẳn với cuộc sống lành mạnh, tự nhiên của người dân. Đó là hình ảnh của thế tử Trịnh Cán. Nơi ở của thế tử thật khác thường: phải trả qua năm sáu lần trướng gấm làm cho nơi ở tối om, ngột ngạt và thiếu sinh khí. Người ta vì đói ăn thiếu mặc mới bệnh hoạn, ốm yếu đã đành, đây lại vì “ăn quá no, mặc quá ấm”, dư thừa về vật chất, vậy mà “tinh khí khô hết, da mặt khô, rốn lồi to, gân thời xanh, tay chân gầy gò vì nguyên khí đã hao mòn, thương tổn quá mức”. Xem tờ khải của Lê Hữu Trác, người đọc càng thấy rõ hơn thực tế này: “chầu mạch, thấy sáu mạch tế sác và vô lực, hữu quan yếu, hữu xích lại càng yếu hơn. Ấy là tì âm hư, vị hỏa quá thịnh, không giữ được dương khí, nên âm hỏa đi càn. Vì vậy, bên ngoài thấy cổ trướng, đó là tượng trưng ngoài thì phù, bên trong thì trống”. Như thế tác giả đã giúp cho người đọc hiểu rõ căn nguyên cơ thể ốm yếu, héo hon, gầy mòn của thế tử chính là kết quả của lối sống xa hoa, giàu sang mà thiếu sinh khí trời lành mạnh, tự nhiên. Cách sống và nơi sinh hoạt của phủ chúa càng làm nổi bật giá trị hiện thực của tác phẩm.
Càng thấy được, hiểu được lối sống xa hoa quyền quý ở phủ chúa Trịnh, chúng ta càng dâng lên lòng căm giận bọn vua quan này vì đoạn trích đã giúp chúng ta nhận ra diện mạo của một chế độ xã hội phi lí, đang bị đào thải. Ngay nhà văn Phạm Đình Hổ trong Vũ trung tùy bút cũng đã có những phản ánh tương tự: “Trong phủ, tùy chỗ, điểm xuyết bày vẽ ra hình núi non bộ trong như bến bể đầu non. Mỗi khi đêm thanh cảnh vắng, tiếng chim kêu vượn hú tràn khắp bốn bể, hoặc nửa đêm ồn ào như trận mưa sa …”. Vậy cuộc sống xa hoa này do đâu mà có? Chắc chắn là do chúng vơ vét của cải nhân dân, gây ra biết bao nhiêu tội ác với nhân dân lao động, đẩy họ vào con đường tối tăm cùng cực… Nguyên do này cũng được nhà văn Phạm Đình Hổ xác nhận như sau: “Buổi ấy, bao nhiêu những loài trân cầm dị thú, cổ mộc quái thạch, chậu hoa cây cảnh ở chốn dân gian, chúa đều sức thu lấy, không thiếu một thứ gì”. Những cuộc đời vẫn có những quy luật của nó. Đó là “nhân nào quả nấy”, đólà “cùng tắc biến”. Chính vì thế mà qua hình dáng và bệnh tình của Đông cung Thế tử, người đọc có thể liên tưởng đến tình trạng suy thoái của truyền đình phong kiến Việt Nam vào thời đó. Chế độ phong kiến tồn tại hàng ngàn năm đã già cỗi, lạc hậu, khó bền cứu chữa và đến ngày diệt vong. Cuộc Bắc phạt của Bắc bình vương Nguyễn huệ đã chấm dứt một thời vàng son của chúa Trịnh.
Quảng cáo
Bạn cần hỏi gì?
Câu hỏi hot cùng chủ đề
-
Hỏi từ APP VIETJACK74293
-
57367
-
Hỏi từ APP VIETJACK41629
-
Hỏi từ APP VIETJACK40309
