bạn hãy cho mình những lí luận văn học về chủ đề :
THÂN PHẬN NGƯỜI PHỤ NỮ XHPK
NGƯỜI LÍNH CÁCH MẠNG
THÀNH QUẢ LAO ĐỘNG
TÌNH CẢM GIA ĐÌNH: bà và cháu , cha và con gái
LÒNG YÊU NƯỚC, YÊU QUÊ HƯƠNG
SỰ CỐNG HIẾN : tuổi trẻ , sức khỏ cho đất nước , trí tuệ
MONG CÁC BẠN GIÚP MÌNH , help me
Quảng cáo
1 câu trả lời 496
1.
Hình ảnh người phụ nữ và thân phận long đong như thân cò mò mẫm xuất hiện rất nhiều trong thơ văn, đặc biệt trong ca dao dân ca Việt Nam thì hình ảnh này lại được tác giả dân gian lựa chọn đặc tả rất hay và những câu ca ấy luôn đi cùng năm tháng.
Đặc biệt người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa là những người phải chịu nhiều thiệt thòi, áp bức bóc lột của giai cấp cường quyền, thậm chí cuộc đời họ vướng vào nhiều chông gai, sóng gió. Người phụ nữ mang vẻ đẹp thanh thoát, nhẹ nhàng với tâm hồn và tình yêu trong sáng nhưng họ luôn bị các thế lực tàn bạo vùi dập một cách không thương tiếc. Sự bất công dưới chế độ phong kiến càng được hiện hữu rõ khi theo tư tưởng "trọng nam khinh nữ", họ chỉ coi phụ nữ như tầng lớp cuối của xã hội không có chỗ để họ vực dậy đấu tranh.
Người phụ nữ xưa không được làm chủ chính cuộc sống của mình, phải thuận theo những khuôn phép chật hẹp trói buộc cuộc đời họ trong những khung sắt giam giữ tâm hồn họ không có gì gọi là cho riêng mình. Đặc biệt khi xã hội phong kiến rất coi trọng "tam tòng, tứ đức" thì đã biến cuộc đời mỗi phụ nữ khi được sinh ra là phải luôn sống hy sinh cho người khác, sống vì người khác không phải cho mình. Chúng ta có thể thấy được trong thơ Hồ Xuân Hương hình ảnh người phụ nữ là chủ để chính cốt lõi luôn được bà nhắc đến và để dành một khoảng trống viết về từng cuộc đời thân phận của họ.
Lời thơ giống như lời bộc bạch cho chính thân phận tác giả và lời kêu vang muốn bảo vệ cho phụ nữ nói chung:
"Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Bảy nổi ba chìm với nước non
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son..."
Người phụ nữ xưa có nhan sắc, phẩm hạnh nhưng quả thực đúng như câu nói cho các bậc thi nhân nói về số phận của người phụ nữ "tài hoa bạc mệnh" dù họ đẹp nhưng vẫn phải chịu một cuộc đời trôi nổi đầy sóng gió. Như những chiếc bánh trôi "bảy nổi ba chìm với nước non", tác giả Hồ Xuân Hương rất tinh tế khi mượn hai từ "nổi", "chìm" để nói lên được rõ nhất số phận những người con gái tài hoa cứ chìm, nổi không biết dạt về chốn nào.
"Thân em như tấm lụa đào,
phất phơ giữa chợ biết vào tay ai"
Đây cũng là một câu ca dao đã nói lên được hết số phận trôi nổi, "phất phơ" giữa cuộc đời không chốn nương tựa. Người phụ nữ giống như "tấm lụa đào" tuy đẹp tuy thướt tha nhưng dường như không có giá trị cứ mặc ngang giữa đường đời không ai hay.
Trong kho tàng ca dao tục ngữ Việt Nam còn rất nhiều những câu thơ hay về chủ đề quen thuộc này, những câu ca dao than thân, trách phận:
- "Thân em như hạt mưa sa
Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày"
- "Thân em như chổi đầu hè
Phòng khi mưa gió đi về chùi chân
Chùi rồi lại vứt ra sân
Gọi người hàng xóm có chân thì chùi"
Nỗi khổ của người phụ nữ không chỉ về vật chất "ngày ngày hai buổi trèo non", "ngày thì dãi nắng đêm thì dầm sương" mà nỗi khổ lớn nhất chính là những chịu đựng cay đắng về tinh thần, họ chỉ được ví với "hạy mưa sa", "chổi đầu hè"... Ta có thể cảm nhận được bao nỗi xót xa của người phụ nữ khi cất lên những lời ca ấy. Họ hiểu được thân phận mình cả đời họ chỉ lầm lũi giống thân cò thân vạc, cam chịu trong sự đau khổ, nhọc nhằn. Và dường như sự bất hạnh ấy của người phụ nữ trong xã hội xưa là một hằng số chung.
Đến khi đi lấy chồng, người phụ nữ còn chịu thêm trăm điều cay cực. Quan niệm "xuất giá tòng phu", "lấy chồng làm ma nhà chồng" đã khiến bao người phụ nữ xưa phải ngậm ngùi nuốt đắng cay, đặc biệt khi lấy chồng xa quê nỗi nhớ khôn nguôi khi đứng ngóng trông về quê mẹ:
- "Chiều chiều ra đứng bờ sông
Muốn về với mẹ mà không có đò"
- "Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều"
- "Chiều chiều xách giỏ hái rau
Ngó lên mả mẹ ruột đau như dần"
Trong xã hội xưa thì khi về làm dâu phải thuận theo nhà chồng, phải chịu những cảnh cực khổ, những khuôn phép ràng buộc, giữ ý tứ khiến người phụ nữ bị bó buộc.
Đã phải chịu nhiều cay đắng tủi cực, họ đều nhẫn nhịn cam chịu, nhưng những người phụ nữ đã vùng lên đứng dậy phản kháng bởi áp lực quá lớn lên đôi vai gầy để đến khi họ không thể chịu được. Đặc biệt số phận người phụ nữ càng trở nên bi kịch khi chịu cảnh chồng chung. Xã hội phong kiến cho phép "trai quân tử năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên chỉ có một chồng" đây là điều bất công mà bao đời nay vẫn còn tiếp diễn. Những người chịu nhiều thua thiệt họ cần được cảm thông, chia sẻ:
- "Lấy chồng làm lẽ khổ thay
Đi cấy đi cày chị chẳng kể công
Tối tối chị giữ mất chồng
Chị cho manh chiếu, nằm không chuồng bò
Mong chồng chồng chẳng xuống cho
Đến khi chồng xuống, gà o o gáy dồn
Chém cha con gà kia, sao mày vội gáy dồn
Để tao mất vía kinh hồn về nỗi chồng con"
- "Thân em làm lẽ chẳng nề
Có như chính thất, ngồi lê giữa đường"
Mặc dù phải chịu những đau thương như vậy nhưng tâm hồn họ vẫn trong sáng, người phụ nữ vẫn luôn có khao khát được hưởng một hạnh phúc trọn vẹn, vẫn ước mơ có tình yêu đẹp:
"Ước gì sông rộng một gang
Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi"
Chỉ là những lời ca ngắn ngủi nhưng vô cùng cô đọng, đó là những lời than thân những lời thổ lộ hết nỗi lòng của người phụ nữ xưa. Nhưng dù trong hoàn cảnh nào thì vẻ đẹp của người phụ nữ cũng không bị vùi lấp. Hình ảnh đó vẫn luôn là chủ đề được các nhà văn, nhà thơ lựa chọn trong sáng tác của mình.
2.
Không thể phủ nhận được rằng trong các cuộc chiến tranh cách mạng của thế kỷ XX, chúng ta không có sự vượt trội về sức mạnh vật chất, nhưng chúng ta lại luôn là người chiến thắng, cho dù chiến thắng ấy có phải đánh đổi bằng rất nhiều máu xương, đánh đổi bằng các những khoảng thời gian đủ cho một thế hệ trưởng thành. Đành rằng chúng ta nhận được nhiều sự quan tâm động viên, giúp đỡ về cả vật chất và tinh thần của bạn bè quốc tế, nhưng những giúp đỡ ấy thật khó để khỏa lấp những chênh lệch nói trên. Nghĩa là chúng ta vẫn phải tiến hành các cuộc chiến tranh cách mạng với việc dựa vào sức mình là chính. Và một trong những yếu tố “sức mình” ấy chính là lòng yêu nước, là tinh thần lạc quan cách mạng. Lòng yêu nước ấy, tinh thần ấy xuất phát từ niềm say mê lý tưởng, tình yêu cố hữu, chân thành và tự nguyện với đất nước quê hương, được tui rèn qua thực tiễn chiến đấu và chiến thắng… Nhưng không thể không nói rằng nó còn được bồi đắp bởi những rung động tinh tế của tâm hồn qua tiếp nhận các tác phẩm văn học mang màu sắc sử thi của giai đoạn này, nhất là thơ, và thơ viết về người lính.
Sớm nhất là hình ảnh những người chiến sĩ trong tên gọi anh Vệ quốc quân. Đấy là lớp người đầu tiên đứng lên cầm súng theo tiếng gọi của Bác Hồ, đi kháng chiến và trở thành những người tiên phong, mà ngay tên gọi thôi cũng đủ để dấy lên một niềm thân thương kiêu hãnh: Anh Bộ đội Cụ Hồ. Đấy là những người lính phần lớn không được đào tạo một cách chính quy, không qua trường lớp và với mọi thành phần xuất thân – thể hiện tinh thần đoàn kết của cả một dân tộc luôn biết nắm chặt tay nhau để bảo vệ lãnh thổ, phong hóa, đời sống, số phận của chính mình. Những người chiến sĩ ấy xuất hiện một cách giản dị, đời thường, thậm chí đôi khi còn tội nghiệp nếu không chú ý đến phẩm chất anh hùng của họ:
Lũ chúng tôi
Bọn người tứ xứ
Gặp nhau hồi chưa biết chữ
Quen nhau từ buổi “một hai”
Súng bắn chưa quen,
Quân sự mươi bài
(Nhớ – Hồng Nguyên)
Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cười buốt giá
Chân không giày
(Đồng chí – Chính Hữu)
Dĩ nhiên trong khí thế toàn dân tộc lên đường, thì không thể thiếu thành phần “tinh hoa” trong đội ngũ ấy: những người lính xuất thân học sinh, sinh viên, trí thức… Vậy nên bên cạnh vẻ đẹp chân chất kia, người ta còn thấy ngời lên vẻ đẹp của sự hào hoa, lịch lãm của những học sinh, sinh viên, trí thức – nhất là những người con thủ đô. Đó là những thanh niên ưu tú “xếp bút nghiên theo việc đao cung”. Không phải ngẫu nhiên mà trong bài Ngày về của Chính Hữu, hình ảnh người lính phảng phất cái gì đó của những khách chinh phu truyền thống. Rồi vẻ đẹp ấy sẽ biến mất trong thơ Chính Hữu, để những con người ấy trở thành “đồng chí” cách mạng, nhưng dáng dấp thanh lịch ấy sẽ xuất hiện trong thơ Hữu Loan, Quang Dũng, với nét mộng mơ của một tráng sĩ xác định một đi không trở lại, Kinh Kha chẳng hạn, nhưng trong lòng không quên lưu luyến một giấc mộng đẹp của niềm tin khải hoàn:
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
(Tây tiến – Quang Dũng)
Những người chiến sĩ ấy, có người xuất thân từ nước mặn, đồng chua để lại “Ít nhiều người vợ trẻ/Mòn chân bên cối gạo canh khuya” hay từ thành thị với “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”, ở nơi “Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính”, hay “Người ra đi đầu không ngoảnh lại/Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy”, cũng đều chung chiến hào, đã chiến đấu theo tinh thần “ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm”, theo tinh thần biến tất cả những gì có trong tay thành vũ khí:
Lột sắt đường tàu
Rèn thêm dao kiếm
Áo vải chân không
Đi lùng giặc đánh
(Nhớ – Hồng Nguyên)
Và nếm trải bao gian lao, vất vả:
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
…
Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục trên súng mũ ngủ quên đời…
(Tây Tiến – Quang Dũng)
Năm mươi sáu ngày đêm khoét núi ngủ hầm mưa dầm cơm vắt
Máu trộn bùn non
(Hoan hô chiến sĩ Điện Biên – Tố Hữu)
Nhưng cũng chính họ làm nên lịch sử, trở thành những nhân vật chính của lịch sử thời đại cách mạng, bởi tinh thần quả cảm, sẵn sàng xả thân vì sự nghiệp chung. Nhiều bài thơ, đoạn thơ miêu tả một cách sinh động, đau xót về tinh thần kiêu dũng ấy:
Gan không núng
Chí không mòn
Những đồng chí thân chôn làm giá súng
Đầu bịt lỗ châu mai
Băng mình qua núi thép gai
Ào ào vũ bão
Những đồng chí chèn lưng cứu pháo
Nát thân nhắm mắt còn ôm
(Hoan hô chiến sĩ Điện Biên – Tố Hữu)
Nhiều thế hệ người Việt Nam lại "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước".
Sau 1954, cả dân tộc lại bước vào cuộc trường chinh mới. Và đây cũng chính là cuộc thử lửa vĩ đại nhất với chất vàng ròng của tình yêu đất nước. Cùng một lúc, nhiều thế hệ người Việt Nam lại “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai”:
Lớp cha trước lớp con sau
Đã thành đồng chí chung câu quân hành
(Tiếng hát sang xuân – Tố Hữu)
Người lính Cụ Hồ lúc này xuất hiện không còn với vẻ đẹp chân chất, đôi khi còn lấm láp đất bùn, mà đã trở nên kỳ vĩ, thậm chí lộng lẫy, và càng tiến sâu vào trung tâm của lịch sử. Thật khó để quên được hình tượng anh giải phóng quân trong thơ Tố Hữu:
Lịch sử hôn anh chàng trai chân đất
Sống hiên ngang bất khuất trên đời
Như Thạch Sanh của thế kỷ XX
(Bài ca mùa xuân 1968)
Hay hình tượng người lính trong thơ Lê Anh Xuân:
Từ dáng đứng của anh trên đường băng Tân Sơn Nhất
Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân
(Dáng đứng Việt Nam)
Sau 1975, đề tài chiến tranh và người lính vẫn tiếp tục là một đề tài quan trọng trong văn học, nhất là văn xuôi và trường ca. Thơ cũng tiếp tục theo đuổi việc miêu tả, thể hiện người lính nhưng với một tinh thần mở, với những nghiền ngẫm, suy tư về một thời đã qua theo tinh thần nhận thức lại. Dường như người đọc gặp nhiều hơn những anh hùng từ hình tượng những người lính biển. Những người lính anh hùng thầm lặng nhiều khi đến xa xót:
Đất nước gian lao chưa bao giờ bình yên
Cơn bão chưa ngưng trong tâm hồn biết bao người
Anh đứng gác, trời khuya đảo vắng
Biển một bên và em một bên
Cho dẫu mai kia thôi không còn biển nữa
Không có em yêu, anh chỉ còn với cỏ
Cho dẫu thế, thì anh vẫn nhớ
Biển một bên và em một bên
(Thơ tình người lính biển – Trần Đăng Khoa)
Ngoài ra chúng ta còn thấy vẻ đẹp ấy trong Tổ quốc nhìn từ biển của Nguyễn Việt Chiến, Mộ gió của Trịnh Công Lộc, Tổ quốc nhìn từ biển của Nguyễn Phan Quế Mai, Hào phóng thềm lục địa của Nguyễn Thanh Mừng, Người sau chân sóng của Lê Thị Mây…
Với hành trình bảy mươi lăm năm, hình tượng người lính đã trở thành một phần không thể thiếu của thơ ca cách mạng Việt Nam. Không thể không có những day dứt, những trở trăn về lựa chọn, về tình thế và thân phận của người lính trong những tác phẩm được viết trong một độ lùi nhất định kể từ khi miền Nam hoàn toàn được giải phóng, đất nước hoàn toàn được thống nhất, bắt đầu từ trường ca. Đấy là quy luật của nhận thức. Nhưng cảm hứng ngợi ca, khẳng định trong thơ viết về người lính vẫn là cảm hứng quan trọng. Chính cảm hứng ấy, tinh thần ngợi ca ấy là nguồn cổ vũ, động viên kịp thời, nhiệt thành và da diết nhất đối với người lính, và cả toàn dân tộc. Một thời, thơ nằm trong ba lô người lính, trên báng súng người lính, trên cánh tay và trong trí nhớ người lính. Thậm chí, ngày nay một người già ở vùng nông thôn cũng có thể đọc làu làu nhiều bài thơ viết về người lính và cách mạng, nhất là thơ Tố Hữu. Đấy là một sự thật. Và sự thật ấy là kết quả của hành trình sáng tạo và tiếp nhận từ trái tim đến trái tim.
3.
Lao động là những hoạt động có mục đích của con người nhằm tạo ra những của cải vật chất và tinh thần cho bản thân và cho xã hội. Những hoạt động đó đã góp phần nâng cánh những ước mơ, những mong ước thiết tha về những điều tốt đẹp trong tương lai. Như vậy, lao động là đôi cánh những ước mơ bay cao, bay xa, đưa con người đến những thành công mới, khám phá những điều bất ngờ, thú vị.
M Gooriki đã khẳng định sâu sắc vai trò của lao động đối với mỗi người, đối với toàn xã hội. Lao động là một cách để chúng ta khẳng định mình, vươn tới những đỉnh cao của trí tuệ, tri thức. Mỗi chúng ta đều có những ước mơ lớn lao hay những gì thân thuộc đều là cả một quá tình phấn đấu, vươn lên. Không ngừng suy nghĩ và làm việc, chúng ta mới có thể góp phần xây dựng và phát hiện nó.
Thực tế, trong lao động nhiều người đã thấy khó khăn, mệt mỏi, mong muốn giản đơn của họ là sáng tạo ra một cái gì đó giúp họ đỡ vất vả. Nhứng ước mơ đó được xây dựng từ trong lao động và cũng được chính lao động nâng cánh cho ước mơ bay cao, bay xa. Phải lao động, nổ lực hết mình chúng ta mới có thể thực hiện được ước mơ đó.
Đó là hình ảnh của bạn học sinh Đỗ Bằng Định- Học sinh trương THPT Phạm Ngũ Lão- Đông Anh- Hà Nội. Sinh ra trong một gia đình làm nông với hai vụ lúa chính và một vụ màu, phải thường xuyên lao động giúp gia đình. Nhận ra sự khó khăn trong việc tách vỏ hạt đậu của bà con nông dân, Định đã nuôi ước mơ chế tạo thành công chiếc máy tách vỏ hạt để giúp bà con nông dân đỡ vất vả. Sau một thời gian dài nghiên cứu và tìm tòi, Định đã chế tạo thành công chiếc máy tách vỏ hạt đậu. Tuy chỉ mới ở dạng mô hình nhưng cậu học sinh này tin rằng trong tương lai, cậu có thể nhân rộng ra chiếc máy để giúp đỡ mọi người.
Không chỉ Định mà hiện nay ở nước ta có rất nhiều người đã nuôi ước mơ và nâng cánh ước mơ từ lao động mà đặc biệt là thế hệ trẻ – những chủ nhân tương lai của đất nước với những sự sáng tạo và cống hiến hết mình. Những sáng tạo của thế hệ trẻ đó, có lẽ, đều bắt nguồn từ lao động. Phải hiểu được những gì mình và mọi người cần trong xã hội thì chúng ta mới có thể chủ động sáng tạo, phát huy được khả năng của mình.
Và trong những lúc lao động ấy, được cống hiến là niềm vui của mỗi người. Lao động không mệt mỏi còn giúp chúng ta vơi đi những nổi buồn, nỗu đau trong cuộc sống. Làm việc hết mình suy nghĩ hết mình, sáng tạo làm cho chúng ta vui hơn khi mình có thể sáng chế, tìm tòi ra những cái mới. Chính từ lao động, chăm chỉ làm việc mà cuộc sống của chúng ta dần được cải thiện. Những thành quả lao động góp phần rất lớn vào cuộc sống vật chất và tinh thần của mỗi người. Và khi mà cuộc sống của chúng ta phát triển thì xã hội cung đi lên, phát triển mạnh mẽ, hội nhập ra toàn thế giới.
Như vậy, ý kiến của M Goocki là hoàn toàn đúng. Mỗi chúng ta đều phải tích cực lao động, lao động không ngừng, phát huy những khả năng sẵn có của bản thân. Đồng thời chúng ta cần phải tích cực học tập, tìm tòi và phát triển cái mới. Cần tích cực nghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo ra những phương thức mới, kĩ thuật mới.
Bên cạnh đó, mỗi người chúng ta phải có thái độ tích cực, tự giác, nghiêm túc, ứng dụng các thành tựu khoa học kĩ thuật, có tính tự giác, kỉ luật cao trong lao động để có được những thành quả lớn nhất.
Tuy nhiên, thực tế hiện nay có rất nhiều người không chịu lao động, chỉ biết ỉ lại, sống dựa dẵm vào sức lao dộng của người khác: suốt ngày chỉ biết chơi bời, không chịu làm việc. Hay là hiện nay có rất nhiều bạn trẻ tuy lao động nhưng lại không biết cách sáng tạo ra những phương pháp mới, chỉ biết làm theo những cái cũ không còn thích hợp với điều kiện và yêu cầu lao động hiện nay. Mỗi người chúng ta, trước hết là phải lao động và sáng tạo và tìm tòi những cái mới, đồng thời cũng nhắc nhở, động viên những người xung quanh lao động sáng tạo để có kết quả tốt nhất.
Như vậy, có lao động chúng ta mới có điều kiện phát huy khả năng của bản thân, nâng cánh cho những ước mơ bay cao, bay xa. Lao động còn giúp cho cuộc sống và xã hội thêm phát triển, vì vạy mà chúng ta cần phải tích cực hơn trong lao động để có điều kiện vươn cao, bay xa hơn, đi đến những tầm cao mới.
4.
Gia đình là nơi ta sinh ra và lớn lên. Ở đó, ta nhận được sự yêu thương, quan tâm và chăm sóc của ông bà cha mẹ. Gia đình nuôi lớn ta, là nơi ta học hỏi biết bao điều bổ ích của cuộc sống và giúp ta hình thành nhân cách bằng tất cả những tình cảm chân thành và cao quý mà ta gọi chung là tình cảm gia đình.
Vậy tình cảm gia đình là gì? Đó là tình cảm của những con người cùng chung huyết thống, máu mủ ruột rà hay cũng là tình cảm của những người không cùng dòng máu nhưng lại sống sum vầy, gắn bó với nhau như một gia đình. Tình cảm ấy là thứ tình cảm thiêng liêng, cao đẹp và là hơi ấm nuôi dưỡng chúng ta nên người.
Trước tiên, tình cảm gia đình là tổng hòa những mối quan hệ tình cảm của những người thân trong gia đình, đó là tình mẫu tử, tình cha con,tình an hem hay tình cảm bà cháu và với những người cô, dì, chú, bác.. Ở họ đều có chung một dòng máu, gắn kết với nhau thành một tập thể quay quần bên nhau mà ta vẫn gọi là gia đình, là tổ ấm. Tình cảm gia đình là tình yêu thương bao la trời biển của mẹ, là dòng sữa ngọt ngào mẹ nuôi con khôn lớn từng ngày. Tình cảm gia đình là sự dạy dỗ và bảo vệ của cha, tuy không dịu dàng như mẹ nhưng nó lại thấm nhuần tình thương, nhờ đó, con trưởng thành nên người. Tình cảm gia đình còn là sự nâng niu, đỡ đần và sẻ chia của những người chị em. Là sự quan tâm, dìu dắt của cô của chú. Là sự kính trọng, phụng dưỡng của con cháu đối với ông bà, cha mẹ. Tất cả những tình cảm đó, ở mỗi người lại có sự thể hiện khác nhau nhưng họ đều mong ta nên người, mong tất cả những điều tốt đẹp đến với ta. Nó thiêng liêng và cao cả hơn bất kì thứ tình cảm nào khác.Vì vậy ta phải biết trân trọng tình cảm gia đình
5.
Quê hương chúng ta mang tên Việt Nam - mảnh đất hình chữ S dấu yêu, nơi mà biết bao thế hệ non trẻ,tài năng đã sinh ra cho đến khi trở về cát bụi vẫn luôn khắc tâm ghi nhớ nơi mình sinh ra. Quê hương ta quả thật rất đẹp, nó đẹp từ con người cho đến thiên nhiên, chả vậy mà đã có rất nhiều người dù đi tới 1 đất nước xa xôi nào đó vẫn luôn dõi về đất Tổ, Việt Nam mang nhiều vẻ đẹp thú vị: tiếng chuông thanh thanh nơi cửa chùa hay mùi rạ lúa vàng óng ả của đồng bằng Cửu Long hoặc những ốc đảo nho nhỏ chốn Hạ Long. Dù đi đến đâu trên đất Việt, chúng ta đều cảm nhận được cái hay và cái hồn của từng phong tục, tập quán của nhân dân Việt Nam, y như 1 câu ca dao lưu truyền từ thời cổ xưa:
Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương
Mịt mù khói tỏa ngàn sương
Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ
6.
“Đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho ta/Mà hãy hỏi ta đã làm gì cho Tổ quốc hôm nay”. Câu hát đã gợi cho ta nhiều suy ngẫm về sự cống hiến của thế hệ trẻ ngày nay. Vậy sự cống hiến là gì và vai trò của nó là gì? Cống hiến là sự hy sinh bản thân, là dốc lòng đóng góp công sức vào việc chung của tập thể, cộng đồng. Đối với thời đại hiện nay, sự cống hiến của các thế hệ, đặc biệt là của thế hệ trẻ là vô cùng quan trọng. Ta có thể thấy được sự cống hiến của thế hệ trẻ ở mọi lúc mọi nơi. Trong thời chiến, họ là những thanh niên xung phong xả thân mình vì độc lập tự do của Tổ quốc. Trở lại thời bình, thế hệ trẻ lại miệt mài học tập, rèn luyện đem lại những tấm huy chương sáng giá, không ngừng khám phá, tìm tòi sáng tạo những cái mới góp phần xây dựng đất nước. Tất cả những sự cống hiến ấy thật cao đẹp và có ý nghĩa thật sâu sắc. Việc làm ấy không chỉ giúp thế hệ trẻ có những hiểu biết sâu rộng, làm nền tảng để bước vào tương lai, thể hiện một phong cách sống cao đẹp mà còn giúp đất nước ngày càng phát triển, hòa nhập với thế giới một cách bình đẳng, khẳng định vị thế trước toàn thế giới. Chính vì những lợi ích to lớn như vậy mà thế hệ trẻ phải biết cách gìn giữ và phát huy hơn nữa, cống hiến nhiều hơn nữa để giúp đất nước ngày càng phát triển. Song, bên cạnh việc thế hệ trẻ biết cống hiến cho đất nước thì một số bạn trẻ khác lại chỉ biết mưu cầu lợi ích riêng, không biết cống hiến, hay lười nhác, ỷ lại ta phải lên án những hành động ích kỷ đó và bài trừ nó để xã hội được phát triển tốt hơn. Việc cống hiến của thế hệ trẻ đối với đất nước là vô cùng quan trọng và là một hành động cao đẹp. Là học sinh, là thế hệ trẻ của đất nước, tôi cũng như các bạn hãy học tập, rèn luyện bản thân để góp một phần nhỏ bé của mình cống hiến cho quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp, văn minh.
Quảng cáo
Bạn cần hỏi gì?
Câu hỏi hot cùng chủ đề
-
254157
-
81152
-
Hỏi từ APP VIETJACK54753
-
48717
-
45393
