Quảng cáo
1 câu trả lời 470
Từ loại là một phổ niệm của ngôn ngữ học nói chung. Nói đến ngôn
ngữ là nói đến ngữ pháp mà nói đến ngữ pháp không thể không nói đến hệ
thống từ loại của nó. Từ loại là một trong những vấn đề, một trong những
đối tượng mà ngữ pháp học chú ý đến trước tiên đối với bất cứ một ngôn
ngữ nào. Với quan điểm như vậy, có thể khẳng định: bất kỳ hệ thống ngôn
ngữ của một dân tộc nào, của một cộng đồng người nào đã có vốn từ vựng,
ngữ pháp riêng thì đều có từ loại. Tiếng Việt không phải là một ngoại lệ.
Từ loại của các ngôn ngữ không biến hình trong đó có tiếng Việt chủ
yếu được phân chia theo các đặc trưng ngữ pháp và đặc trưng ngữ nghĩa.
Căn cứ vào một tập hợp các tiêu chuẩn để xác định từ loại tiếng Việt có thể
từng bước xác định được các đối lập trong kho từ vựng tiếng Việt. Các đối
lập này tạo thành các tập hợp lớn rồi đến các tập hợp vừa và cuối cùng là các
tập hợp nhỏ. Tập hợp lớn bao gồm thực từ, hư từ và tình thái từ. Tiếng Việt
có 9 tập hợp vừa thuộc thực từ, hư từ và tình thái từ… Qua các bước phân
chia từ tập hợp lớn đến tập hợp nhỏ, chúng ta có 9 kiểu từ loại trong hệ
thống từ loại tiếng Việt, đó là: danh từ, số từ, động từ, tính từ, đại từ, phụ từ,
liên từ, trợ từ và cảm từ. Mỗi từ loại lại có những tiểu loại khác nhau… tất
cả làm nên sự phong phú, đa dạng của hệ thống từ loại tiếng Việt.
Trong 9 từ loại kể trên của tiếng Việt thì đại từ là một từ loại có vị trí
đặc biệt. Đó là vị trí trung gian giữa thực từ và hư từ và là một từ loại trung
gian giữa các từ loại cơ bản. Đại từ không phải là thực từ đích thực. Tuy nó
có mối quan hệ mật thiết, gần gũi với các thực từ cơ bản như danh từ, động
từ, tính từ nhưng nó lại không có quan hệ trực tiếp với thực tại như các từ
loại trên.
khái niệm và tư duy với thực tại một cách gián tiếp: chúng mang nội dung
phản ánh vốn có của các thực từ mà nó thay thế. Hơn nữa, đại từ cũng không
thuộc lớp hư từ vì nó không chỉ phản ánh mối quan hệ giữa các khái niệm
trong tư duy như phụ từ, quan hệ từ.
So với các từ loại khác, đại từ chiếm một số lượng từ ít nhưng nó lại
có một tần số sử dụng rất cao và có vai trò vô cùng cần thiết trong ngôn ngữ
và trong giao tiếp. Đại từ thường được định nghĩa là những từ không dùng
để định danh một thực thể, một hành động hay một tính chất nào đó của thực
thể mà được dùng để thay thế cho chúng.
Như đã nói, đại từ là một từ loại trung gian, không thuần nhất nên phân
loại thành các tiểu loại là một việc khó khăn, phức tạp. Có nhiều cách phân
chia khác nhau. Theo Diệp Quang Ban [2; 111] thì đại từ tiếng Việt được
chia thành hai lớp con: đại từ xưng hô và đại từ chỉ định. Còn Lê Biên
[1; 122] lại chia đại từ thành các tiểu loại: đại từ xưng hô; đại từ chỉ định;
đại từ để hỏi; đại từ chỉ khối lượng, tổng thể; đại từ phiếm chỉ và các đại từ
“thế, vậy”.
Nhìn chung, theo cách phân loại nào thì đại từ xưng hô hay theo một
cách gọi khác là từ ngữ xưng hô vẫn được xem là quan trọng nhất. Đây là
một trong những lý do chính để người viết chọn nghiên cứu đề tài “Tìm hiểu
về từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt”. Trên cơ sở trình bày các đặc điểm, đặc
trưng cơ bản của từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt, sự phong phú về số lượng
cũng như sự đa dạng trong cách dùng, bài viết nhằm làm nổi bật vẻ đẹp của
từ ngữ xưng hô nói riêng và vẻ đẹp của tiếng Việt nói chung. Song song với
các phương pháp phân tích, miêu tả, so sánh đối chiếu, qua khảo sát sinh
viên khoa Đông phương, trường Đại học Lạc Hồng, bài viết phần nào phản
Khái quát về từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt
Trong bất kỳ một hành vi giao tiếp nào, xưng hô là một hiện tượng
không thể thiếu được. Có thể nói, có giao tiếp là có xưng gọi. Chính vì vậy,
trong bất kỳ một ngôn ngữ nào, lớp từ ngữ dùng để xưng hô cũng luôn đóng
vai trò quan trọng và là một trong những yếu tố tạo nên sự phong phú trong
vốn ngôn từ của mỗi dân tộc.
Quảng cáo
Bạn cần hỏi gì?
Câu hỏi hot cùng chủ đề
-
Hỏi từ APP VIETJACK52827
-
40836
-
Đã trả lời bởi chuyên gia
35426 -
33733
-
Hỏi từ APP VIETJACK32013
