1. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Đọc văn bản sau:
[...] (1) Đa phần người trẻ Việt Nam hiện nay thì lại chủ ý quá nhiều vào học hành, vào sự nghiệp. Cuộc sống hầu như chỉ biết đến công việc, không biết đến trải nghiệm khác, đến những điều khác cần thiết trong cuộc sống như âm nhạc, khiêu vũ các môn thể thao, dã ngoại, leo núi... Ngay cả kỹ năng sống còn như bơi lội không phải người trẻ nào cũng biết, đừng nói đến những trải nghiệm đặc biệt thử thách khả năng chịu đựng của bản thân, khiến con người bước ra khỏi vùng an toàn của mình và làm cuộc sống thêm phong phú. Điều mà giới trẻ Việt Nam nên làm là cân bằng giữa những trải nghiệm làm giàu cuộc sống, và những kinh nghiệm có thể đóng góp vào sự phát triển dài hạn cho nghề nghiệp.)
(2) Không ai trên đời có hai lần tuổi trẻ. Trong khi nhiều người trong tuổi trẻ lạc lối mất phương hương, lãng phí thời gian, thì họ không biết rằng những gì họ đang làm hay không làm hôm nay sẽ ảnh hưởng rất nhiều trong cả cuộc đời còn lại. Qua 30 hay 40 tuổi, công việc cuộc sống của hầu hết mọi người đã ổn định, khó học thêm, làm thêm được gì, và cuộc sống ít có những thay đổi to lớn.
(3) Có thể bây giờ bạn không nhận ra, nhưng tuổi đôi mươi là tuổi tạo tiền đề. Đây là khoảng thời gian mà bạn xây dựng, gieo trồng, chứ không phải là thời gian nghỉ ngơi thụ hưởng. Hãy tận dụng khoảng thời gian này để học hỏi, bước đi, làm thật nhiều thứ. Hãy đọc nhiều hơn, lăn lộn nhiều hơn, thực hành nhiều hơn. Chuẩn bị kiến thức, kỹ năng, mạng lưới hỗ trợ cho tương lai. Kỹ năng nếu không được học trong thời trẻ, thì sau này môi
trường ổn định ít va chạm rất khó để học lại được. sống. Tuổi trẻ đã qua sẽ không bao giờ trở lại, hãy sống như thể ta chỉ còn lại một ngày để
(Trích Tuổi trẻ đáng giá bao nhiêu, Rosie Nguyễn, NXB Hội nhà văn 2018, tr.136-137).
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Xác định luận đề của văn bản.
Câu 2. Theo tác giả, điều mà người trẻ Việt Nam nên làm là gì ?
Câu 3. Nêu tác dụng của việc sử dụng các lí lẽ và bằng chứng ở đoạn (1)
Câu 4. Phân tích hiệu quả biểu đạt của biện pháp tu từ ẩn dụ trong câu: “Đây là khoảng thời gian mà bạn xây dựng, gieo trồng, chứ không phải là thời gian nghỉ ngơi thụ hưởng "
Câu 5. Từ nội dung văn bản, anh/chị rút ra bài học gì có ý nghĩa nhất cho bản thân khi đang ở độ tuổi thanh xuân? Lí giải vì sao?
II. PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1. (2.0 điểm)Từ quan niệm của bài viết: “Không ai trên đời có hai lần tuổi trẻ” và “hãy sống như thể ta chỉ còn một ngày để sống”, hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 150 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về giá trị của tuổi trẻ.
Câu 2. (4.0 điểm)
Anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (500 chữ) so sánh, đánh giá hai bài thơ sau:
Bài thơ thứ nhất:
Anh xa em Trăng cũng lẻ Mặt trời cũng lẻ Biển vẫn cậy mình dài rộng thế Vắng cánh buồm một chút đã cô đơn
Gió không phải là roi mà vách núi phải mòn Em không phải là chiều mà nhuộm anh đến tím Sóng chẳng đi đến đâu nếu không đưa em đến Dù sóng đã làm anh Nghiêng ngả
Vì em..
(Hữu Thinh, Thơ viết ở biển, in trong tập 100 bài thơ tình chọn lọc, NXB Giáo dục, 1997, tr. 152-153)
Bài thơ thứ hai:
Anh cách em như đất liền xa cách bể Nửa đêm sâu nằm lắng sóng phương em Em thân thuộc sao thành xa lạ thế Sắp gặp em rồi sóng lại đẩy xa thêm
Anh không ngủ. Phải vì em đang nhớ Một trời sao rực cháy giữa đôi ta Em nhắm mắt cho lòng anh lặng gió Cho trời sao yên rụng một đêm hoa.
(Chế Lan Viên, Chùm nhỏ thơ yêu, in trong tập Hoa ngày thường - Chim báo bão, NXB Văn học, 1967)
Chú thích:
Nhà thơ Hữu Thỉnh sinh ngày 15 tháng 2 năm 1942. Ông là là tác giả của những tập thơ, trường ca tiêu biểu như Sang thu, Thư mùa đông, Trường ca biển, Thương lượng với thời gian... Thơ ông mang tính trữ tình sâu lắng, gần gũi với thiên nhiên và cuộc sống; ngôn từ giản dị, trong sáng.
Nhà thơ Chế Lan Viên (1920-1989). Con đường thơ của ông trải qua nhiều biến động, nhiều bước ngoặt với những trăn trở, tìm tòi sáng tạo không ngừng. Thơ Chế Lan Viên giàu tính suy tưởng- triết lí với hệ thống hình ảnh phong phú, độc đáo, giàu ý nghĩa biểu tượng.
-HẾT-
Quảng cáo
1 câu trả lời 134
Dưới đây là phần gợi ý trả lời chi tiết cho toàn bộ đề kiểm tra, được trình bày rõ ràng, súc tích và tuân thủ tuyệt đối quy tắc không sử dụng bảng (table):
PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Câu 1.
Luận đề của văn bản: Tầm quan trọng của tuổi trẻ và định hướng lối sống tích cực, chủ động trải nghiệm, học hỏi, xây dựng nền tảng cho tương lai của thế hệ trẻ.
Câu 2.
Theo tác giả, điều mà người trẻ Việt Nam nên làm là: Cân bằng giữa những trải nghiệm làm giàu cuộc sống và những kinh nghiệm có thể đóng góp vào sự phát triển dài hạn cho nghề nghiệp; tận dụng thời gian tuổi trẻ để học hỏi, bước đi, làm thật nhiều thứ, chuẩn bị kiến thức, kỹ năng và mạng lưới hỗ trợ cho tương lai.
Câu 3.
Tác dụng của việc sử dụng các lí lẽ và bằng chứng ở đoạn (1):
Về lí lẽ: Giúp chỉ ra thực trạng đáng buồn của đa phần giới trẻ hiện nay là quá chú trọng học hành, công việc mà bỏ quên các trải nghiệm sống thiết thực, kỹ năng sinh tồn và việc bước ra khỏi vùng an toàn.
Về bằng chứng/dẫn chứng: Đưa ra các hoạt động cụ thể (âm nhạc, khiêu vũ, thể thao, dã ngoại, leo núi, bơi lội...) làm cho lập luận trở nên sinh động, sát thực tế, dễ thuyết phục người đọc.
Hiệu quả chung: Làm nổi bật tính cấp thiết của việc cân bằng giữa phát triển kỹ năng sống và định hướng nghề nghiệp cho người trẻ.
Câu 4.
Phân tích hiệu quả biểu đạt của biện pháp tu từ ẩn dụ:
Biện pháp ẩn dụ: Các từ ngữ "xây dựng", "gieo trồng" được sử dụng để chỉ quá trình tích lũy kiến thức, rèn luyện kỹ năng, bồi dưỡng nhân cách và tạo dựng nền tảng cho tương lai.
Hiệu quả biểu đạt:
Làm cho câu văn trở nên giàu hình ảnh, sinh động và có sức gợi cảm cao.
Nhấn mạnh tuổi trẻ không phải là quãng thời gian để nghỉ ngơi, lãng phí hay hưởng thụ, mà là mùa màng của sự gieo hạt, lao động miệt mài để chờ ngày gặt hái thành quả ở tương lai.
Câu 5.
Gợi ý bài học có ý nghĩa nhất: Bài học về việc chủ động dấn thân, trải nghiệm và không ngừng học hỏi trong độ tuổi thanh xuân.
Lí giải:
Thanh xuân là khoảng thời gian quý giá nhất của đời người, là "vốn vốn liếng" duy nhất mà ai cũng chỉ có một lần ("không ai trên đời có hai lần tuổi trẻ").
Nếu không biết tận dụng thời gian này để trau dồi tri thức, kỹ năng, dám bước ra khỏi vùng an toàn để va vấp và trưởng thành, chúng ta sẽ dễ rơi vào trạng thái tụt hậu, nuối tiếc khi bước sang tuổi trung niên – giai đoạn cuộc sống đã ổn định và khó thay đổi. Sống chủ động hôm nay chính là cách chịu trách nhiệm tốt nhất cho tương lai của chính mình.
PHẦN II. VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1. (2.0 điểm) Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 150 chữ)
Gợi ý đoạn văn: Tuổi trẻ là quãng thời gian đẹp đẽ, rực rỡ và duy nhất của đời người, đúng như quan niệm: "Không ai trên đời có hai lần tuổi trẻ" và "hãy sống như thể ta chỉ còn một ngày để sống". Câu nói ấy mang đến một thông điệp nhân sinh vô cùng sâu sắc về giá trị của tuổi trẻ và thái độ sống. Tuổi trẻ vô giá bởi đó là khoảng thời gian con người tràn đầy sức khỏe, nhiệt huyết, sự sáng tạo và cơ hội để sai lầm, để đứng dậy làm lại từ đầu. Sự hữu hạn của thời gian nhắc nhở chúng ta không thể hoài phí tuổi trẻ vào sự chần chừ, lười biếng hay lối sống hững hờ, thụ động. Sống "như thể ta chỉ còn một ngày để sống" không có nghĩa là buông xuôi, hưởng thụ gấp gáp, mà là thức tỉnh ý thức trân trọng từng phút giây, sống hết mình với đam mê, yêu thương chân thành và cống hiến trọn vẹn cho những mục tiêu cao đẹp. Khi biết trân quý từng ngày tháng tuổi trẻ, ta sẽ không phải đối mặt với hai từ "giá mà" đầy tiếc nuối khi thanh xuân qua đi.
Câu 2. (4.0 điểm) Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai bài thơ (khoảng 500 chữ)
Gợi ý bài văn:
Thơ tình yêu từ lâu đã là tiếng gọi muôn thuở của những trái tim đồng điệu. Viết về khoảng cách, nỗi nhớ và sự chênh vênh trong tình yêu, mỗi nhà thơ lại có một tứ thơ và cách cảm nhận riêng biệt. Đặt hai đoạn thơ trong "Thơ viết ở biển" của Hữu Thỉnh và "Chùm nhỏ thơ yêu" của Chế Lan Viên lên bàn cân so sánh, ta vừa thấy được những rung động tinh tế chung của tâm hồn thi sĩ, vừa cảm nhận rõ nét dấu ấn sáng tạo độc đáo của từng ngòi bút.
Cả hai bài thơ đều gặp gỡ nhau ở cảm hứng chủ đạo về tình yêu đôi lứa, gắn liền với những trăn trở, suy tư trước không gian rộng lớn của biển trời và khoảng cách xa xôi. Ở cả hai văn bản, không gian biển cả và sóng nước được mượn làm chất xúc tác để tô đậm nỗi nhớ, sự cô đơn và cảm giác chênh vênh của người đang yêu. Dù là "cánh buồm một chút đã cô đơn" của Hữu Thỉnh hay "sóng lại đẩy xa thêm" của Chế Lan Viên, biển đều hiện lên như một nhân chứng khắc họa rõ nét biên độ của nỗi nhớ và khao khát được gắn kết, hòa hợp.
Tuy nhiên, nét hấp dẫn của văn chương nằm ở sự khác biệt trong tư duy nghệ thuật và giọng điệu của từng tác giả.
Đoạn thơ của Hữu Thỉnh mang đậm chất trữ tình, đằm thắm và gần gũi với đời sống tự nhiên. Nhà thơ khéo léo sử dụng cấu trúc tương phản giữa cái hữu hạn và vô hạn ("Biển vẫn cậy mình dài rộng thế / Vắng cánh buồm một chút đã cô đơn"), kết hợp với nghệ thuật nhân hóa tinh tế ("Gió không phải là roi mà vách núi phải mòn / Em không phải là chiều mà nhuộm anh đến tím"). Tình yêu trong thơ Hữu Thỉnh là sự thấm đẫm vào cảnh vật, khiến vách núi phải mòn, khiến không gian hoàng hôn ngập sắc tím và làm cho nhân vật "anh" trở nên "nghiêng ngả vì em". Giọng thơ dịu ngọt, tha thiết, chân thành như một lời tỏ tình tự nhiên từ đáy lòng.
Trái lại, đoạn thơ của Chế Lan Viên lại mang đậm chất suy tưởng, triết lí với hệ thống hình ảnh mang tính biểu tượng cao. Khoảng cách địa lý giữa người với người không chỉ đo bằng dặm đường mà hóa thân thành sự xa cách giữa "đất liền" và "bể". Nỗi nhớ trong thơ Chế Lan Viên mang màu sắc trí tuệ, dồn nén những mâu thuẫn nội tâm sâu sắc: "Em thân thuộc sao thành xa lạ thế / Sắp gặp em rồi sóng lại đẩy xa thêm". Đỉnh cao của đoạn thơ là sự thăng hoa trong tâm hồn khi đối diện với nỗi nhớ: "Anh không ngủ. Phải vì em đang nhớ / Một trời sao rực cháy giữa đôi ta / Em nhắm mắt cho lòng anh lặng gió / Cho trời sao yên rụng một đêm hoa". Giọng thơ trầm lắng, giàu tính tượng trưng, đưa người đọc vào cõi tâm linh sâu thẳm của sự đồng điệu tuyệt đối giữa hai tâm hồn.
Sự khác biệt ấy xuất phát từ phong cách nghệ thuật riêng biệt của mỗi nhà thơ: Hữu Thỉnh gắn bó với sự tinh tế, mộc mạc của thiên nhiên đời thường, trong khi Chế Lan Viên lại bay bổng trong không gian của triết lý, suy ngẫm và những hình tượng vũ trụ lớn lao.
Khép lại hai đoạn thơ, cả Hữu Thỉnh và Chế Lan Viên đều thành công trong việc khắc họa những cung bậc kỳ diệu của tình yêu đôi lứa. Nếu thơ Hữu Thỉnh làm ta rung động bởi sự đằm thắm, ngọt ngào của nỗi nhớ gắn liền với sắc thái thiên nhiên thân thuộc, thì thơ Chế Lan Viên lại đánh thức tư duy và cảm xúc bằng chiều sâu triết lý. Cả hai bài thơ mãi là những đóa hoa rực rỡ trong khu vườn thi ca tình yêu Việt Nam.
Quảng cáo
Bạn cần hỏi gì?
Câu hỏi hot cùng chủ đề
-
3348
-
2621
-
2514
-
1970
-
1961
-
1874
-
1794
-
1765
