Bài 1
Xem hướng dẫn Bình luận (110)
(4 điểm) Đọc văn bản sau:
(Tóm tắt phần đầu: Nguyễn Sinh người Thanh Trì, diện mạo đẹp đẽ, tư chất thông minh, giọng hát ngọt ngào. Chàng sớm mồ côi cha, nhà nghèo nên học hành dang dở. Chàng làm nghề chèo đò. Vì say đắm giọng hát và vẻ ưa nhìn của chàng nên cô con gái một nhà giàu họ Trần đã đem lòng yêu mến, sai người hầu đem khăn tay đến tặng, dặn chàng nhờ người mai mối đến hỏi. Nguyễn Sinh nhờ mẹ bảo người mai mối đến nhà nàng nhưng bố nàng chê chàng nghèo nên không nhận lời, còn dùng lời lẽ không hay để mắng bà mối. Chàng phẫn chí bỏ đi xa để lập nghiệp; cô gái biết chuyện âm thầm đau khổ chẳng thể giãi bày cùng ai, dần sinh bệnh, hơn một năm sau thì nàng qua đời.)
(1) Trước khi nhắm mắt, nàng dặn cha:
- Trong ngực con chắc có một vật lạ. Sau khi con nhắm mắt, xin cha cho hỏa táng để xem vật đó là vật gì?
Ông làm theo lời con. Khi lửa thiêu đã lụi, ông thấy trong nắm xương tàn, sót lại một vật, to bằng cái đấu, sắc đỏ như son, không phải ngọc cũng chẳng phải đá, nó trong như gương, búa đập không vỡ. Nhìn kĩ thì thấy trong khối ấy có hình một con đò, trên đò một chàng trai trẻ tuổi đang ngả đầu tựa mái chèo nằm hát. Nhớ lại việc nhân duyên trước kia của con, ông chợt hiểu ra vì chàng lái đò mà con gái ông chết, hối thì không kịp nữa. Ông bèn đóng một chiếc hộp con, cất khối đỏ ấy vào trong, đặt lên giường của con gái.
(2) Nguyễn Sinh bỏ nhà lên Cao Bằng làm khách của trấn tướng. Chàng vì hát hay nên được trấn tướng yêu quý. Hơn một năm sau, chàng dần dần có của nả, rồi lại mấy năm nữa tích cóp lại được hơn hai trăm lạng vàng. Chàng nghĩ: “Số vàng này đủ để chi dùng cho việc cưới xin”. Xong, chàng sửa soạn hành trang trở về. Đến nhà, chàng hỏi thăm ngay cô gái nọ. Được nghe tất cả đầu đuôi về nàng, chàng vô cùng đau đớn, vội sắm sửa lễ vật đến điếu nàng. Khi chàng làm lễ xong, bố cô có mời chàng ở lại dùng cơm. Chàng xin ông cho xem vật đã được cất giấu trong hộp con. Ông mở hộp lấy ra đưa chàng. Chàng nâng niu cầm lấy, lòng vô cùng xúc động, hai dòng lệ trào ra nhỏ xuống khối đá đỏ. Bỗng khối đá tan ra thành nước, giọt giọt đều biến thành máu tươi, chảy đầm đìa vào tay áo chàng. Chàng cảm kích mối tình của nàng, thề không lấy ai nữa.
(Trích Chuyện tình ở Thanh Trì, Lan Trì kiến văn lục, Vũ Trinh, in trong Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, tập 1, Nguyễn Đăng Na giới thiệu và tuyển soạn, NXB Giáo dục, 1997, tr 424 - 426)
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):
Câu 1. Xác định thể loại của văn bản?
Câu 2. Phát biểu chủ đề của văn bản.
Câu 3. Vì sao người cha lại ngăn cản mối hôn sự của chàng trai với con gái mình? Nhận xét về cách hành xử của người cha.
Câu 4. Chỉ ra và phân tích tác dụng của chi tiết kì ảo trong đoạn (2).
Câu 5. Từ nội dung của văn bản, hãy trình bày suy nghĩ của em về khát vọng tình yêu thời phong kiến (khoảng 5 - 7 dòng).
Bạn cần phải Đăng nhập để trả lời câu hỏi này
Bài 2
Xem hướng dẫn Bình luận (89)
(4 điểm) Đọc văn bản sau:
(Tóm tắt phần đầu: Từ Thức làm quan Tri huyện Tiên Du, nhân một buổi xem hội hoa mẫu đơn mà cứu giúp một người con gái đẹp. Vì tính ham thơ mến cảnh nên chàng đã từ quan mà chọn sống chốn nước biếc non xanh. Một hôm Từ Thức mải vãn cảnh mà lạc vào động tiên, gặp lại người con gái mà chàng đã cứu hôm đi hội, mới biết hóa ra cô gái đó chính là nàng tiên Giáng Hương, con của bà tiên cai quản vùng núi Phù Lai, động tiên thứ 6 trong 36 động tiên bồng bềnh ngoài biển cả. Để báo đáp ơn cứu mạng trước kia, phu nhân đã tác hợp cho Từ Thức và Giáng Hương nên duyên vợ chồng trong sự chúc phúc của quần tiên.)
Nhưng từ khi chàng bỏ nhà đi thấm thoát đã được một năm, ao sen đã đổi thay mầu biếc. Những đêm sương sa gió thổi, bóng trăng sáng nhòm qua cửa sổ, tiếng thủy triều nghe vẳng đầu giường, đối cảnh chạnh lòng, một mối buồn bâng khuâng, quấy nhiễu khiến không sao ngủ được. Một hôm trông ra bể, thấy một chiếc tàu buôn đi về phương nam, Từ trỏ bảo Giáng Hương rằng:
- Nhà tôi đi về phía kia kìa, song biển cả trời xa, chẳng biết là ở tận đâu.
Rồi nhân lúc rỗi, chàng nói với nàng rằng:
- Tôi bước khách bơ vơ, lòng quê bịn rịn, lệ hoa thánh thót, lòng cỏ héo hon, dám xin thể tình mà cho được tạm về, chẳng hay ý nàng nghĩ thế nào?
Giáng Hương bùi ngùi không nỡ dứt. Từ lang nói:
- Tôi xin hẹn trong một thời kỳ bao nhiêu lâu, để về cho bạn bè gặp mặt và thu xếp việc nhà cho yên, sẽ lại đến đây để với nàng cùng già ở chỗ làng mây bến nước.
Giáng Hương khóc mà nói:
- Thiếp chẳng dám vì tình phu phụ mà ngăn cản mối lòng quê hương của chàng. Song cõi trần nhỏ hẹp, kiếp trần ngắn ngủi, dù nay chàng về, nhưng chỉ e liễu sân hoa vườn, không còn đâu cảnh tượng như ngày trước nữa.
Nàng nhân thưa với phu nhân, phu nhân nói:
- Không ngờ chàng lại thắc mắc vì mối lòng trần như vậy.
Nhân cho một cỗ xe cẩm vân để chàng cưỡi về. Nàng cũng đưa cho chàng một bức thư viết vào lụa mà nói:
- Ngày khác trông thấy vật này, xin đừng quên mối tình cũ kĩ.
Rồi trào nước mắt mà chia biệt.
Chàng đi chỉ thoắt chốc đã về đến nhà, thì thấy vật đổi sao dời, thành quách nhân gian, hết thảy đều không như trước nữa, duy có những cảnh núi khe là vẫn không thay đổi sắc biếc màu xanh thuở nọ. Bèn đem tên họ mình hỏi thăm những người già cả thì thấy có người nói:
- Thuở bé tôi nghe nói ông cụ tam đại nhà tôi cũng cùng tên họ như ông, đi vào núi mất đến nay đã hơn tám mươi năm, nay đã là năm thứ năm niên hiệu Diên Ninh là đời ông vua thứ ba của triều Lê rồi.
Chàng bấy giờ mới buồn bực bùi ngùi; muốn lại lên xe mây để đi, nhưng xe đã hóa làm một con chim loan mà bay mất. Mở thư ra đọc, thấy có câu: "Kết lứa phượng ở trong mây, duyên xưa đã hết, tìm non tiên ở trên biển, dịp khác còn đâu!" mới biết là Giáng Hương đã nói trước với mình những lời ly biệt. Chàng bèn mặc áo cừu nhẹ, đội nón lá ngắn, vào núi Hoành Sơn, rồi sau không biết đi đâu mất.
(Trích Từ Thức lấy vợ tiên, Truyền kì mạn lục, Nguyễn Dữ, in trong Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, tập 1, Nguyễn Đăng Na giới thiệu và tuyển soạn, NXB Giáo dục, 1997, tr 259 - 260)
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):
Câu 1. Xác định thể loại của văn bản.
Câu 2. Khi trở về quê cũ, Từ Thức rơi vào tình huống như thế nào?
Câu 3. Nhận xét về không gian và thời gian nghệ thuật trong đoạn trích trên.
Câu 4. Chỉ ra và phân tích tác dụng của một yếu tố kì ảo trong văn bản.
Câu 5. Hành động của nhân vật Từ Thức ở cuối tác phẩm gợi cho em những cảm nhận, suy nghĩ gì?
Bạn cần phải Đăng nhập để trả lời câu hỏi này
Bài 3
Xem hướng dẫn Bình luận (87)
Đọc văn bản sau:
(Lược một đoạn: Đào Cảnh Long, hiệu là Vân Hiên cư sĩ, là một học trò nghèo sống vào cuối đời Lê Chiêu Thống, đức độ rộng rãi, tính tình chất phác, trọng danh nghĩa, chuộng khí khái. Năm Bính Thìn, vì nhà thiếu ăn, chàng phải đi dạy học thuê cho một nhà giàu.).
Ở chỗ dạy học, anh có nuôi một con chó già, sớm hôm chơi đùa với nó. Anh đi đâu, nó cũng đi theo. Anh ngồi đâu, nó cũng đứng chầu bên cạnh. Anh đặt tên nó là Hàn Lư. Anh thường đùa với nó:
- Mày được ta chăm nuôi, mày có chịu dốc sức liều chết vì ta không?
Con vật gật đầu, ngoe nguẩy đuôi như tỏ ý nhận lời.
Mấy tháng sau, anh có việc phải trở về quê hương. Con chó phải ở lại. Nó quanh quẩn ra vào ở cửa phòng học. Ban ngày xua đuổi gà lợn, ban đêm phòng giữ kẻ gian. Nhiều khi bọn trẻ lãng quên, không cho ăn, tiếng sủa của con chó không còn được sang sảng nữa.
Bấy giờ, trong làng có một phú ông họ Trương thấy vậy, thương hại, đem cơm đến cho ăn. Vừa bước vào cửa phòng học, liền bị con chó cắn phải. Ông trách mắng:
- Hàn Lư! Hàn Lư! Vì thương mày đói lâu nay, nên ta đến đưa cơm cho mày ăn. Ta đâu phải là kẻ bất nhân! Mày tuy là giống vật, nhưng cũng biết suy nghĩ chút ít. Sao mày lại lấy oán trả ân?
Ông chưa dứt lời, con vật chồm lên, nhe răng, giơ vuốt, nói bằng tiếng người:
- Ngày chủ tôi đi có căn dặn tôi phải bảo vệ phòng học, trông nom bọn trẻ. Ngăn chặn kẻ ác, cấm đoán kẻ gian là trách nhiệm của tôi. Ông tới đột ngột, lại không có chủ tôi đón tiếp, thì bị cắn một miếng là đúng lẽ thôi! Thế mà còn trách mắng nặng lời gì nữa!
Thấy con chó biết nói tiếng người, lại nói đúng lẽ, phú ông thầm nghĩ trong bụng nó là con vật kì lạ, ý muốn dụ dỗ, bèn nói:
- Ông chủ của mày bản chất là thầy đồ nghèo. Mình hắn chẳng đủ miếng ăn, lấy đâu ra dành cho mày nữa. Bây giờ chi bằng mày bỏ chỗ tối, tới chỗ sáng, bỏ nhà nghèo, tới nhà giàu, tìm nơi no đủ, sung sướng suốt đời, có phải hơn không? Tội gì mà phải chịu khổ mãi?
Con chó nói:
- Ôi! Ông cũng là người, sao nỡ mở miệng buông lời như thế. Kẻ sĩ trung nghĩa, không vì cùng hay thông mà thay đổi ý chí, cho nên đến mùa rét mới biết rõ bách tùng tươi tốt hơn các cây khác, gặp gió mạnh mới hay cây đứng được vững chắc. Giống súc vật tuy khác với loài người, song vẫn có tính trời phú, biết giữ vững khí tiết đối với chủ của mình. Huống hồ ông chủ của tôi lại là một người luôn biết giữ lòng chân chính, sống nghề quang minh, trung để thờ vua, tín để kết bạn, hiếu với cha mẹ, hòa thuận họ hàng, trời sắp giao cho trách nhiệm quan trọng, cho nên bắt phải cùng khổ thiếu thốn, để trau dồi cho được thành công tốt đẹp đó thôi! Ông nói năng lung tung chẳng đúng gì, nên tôi tha thứ cho. Nếu không miệng này sẽ cắn cho một miếng nữa, chẳng ngần ngại gì! Hãy mau mau lui về, chớ để sau phải hối tiếc!
Phú ông nghe xong, sửng sốt ngây dại, hiểu rõ con vật có nghĩa, không thể giành giật được, đành mang cơm ra về.
Vài hôm sau, Đào Cảnh Long trở về, con chó mừng rỡ ra cửa đón tiếp, hình dáng tiều tụy khôn xiết. Nghe xóm giềng kể lại câu chuyện, Đào Cảnh Long cảm động lắm, ngậm ngùi lấy làm lạ mãi. Anh kiểm tra lại phòng sách, thì khóa cửa không di chuyển, giường chiếu còn y nguyên, đều là nhờ con chó hết sức canh giữ.
Ôi! Con chó là loài súc vật, mà còn biết giữ lòng tiết nghĩa thờ chủ. Dù dùng lời đường mật dụ dỗ, cũng không thể lay chuyển lòng dạ sắt đá của nó. Huống gì con người ăn lộc nhà vua, nếu giữ vững đầy đủ cái lòng tiết nghĩa ấy để đền ơn nước, xông ra đánh giặc, giặc nào chẳng tan; cố sức giữ thành, thành nào chẳng vững…
Than ôi! Sao mà lòng người chẳng còn được như xưa, thói đời đổi thay nhiều dạng? Lúc nước nhà yên vui thì bợ đỡ cầu vinh, lúc cuộc đời rối ren thì trở mặt đổi giọng, bán nước kiếm ăn, theo thời cầu lợi, không còn chút liêm sỉ, thật là quá quắt!
Vì vậy, tôi cho rằng ở đời nhiều kẻ không bằng con Hàn Lư đấy! Nhân ghi lại mẩu chuyện để răn bảo người đời.
(Trích Chuyện con chó có nghĩa của một nhà nghèo, Phạm Quý Thích, in trong Truyện truyền kì Việt Nam, Vũ Ngọc Khánh - Nguyễn Quang Ân sưu tầm, tuyển chọn, NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2023, tr.320 - 332)
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản.
Câu 2. Xác định ngôi kể của văn bản.
Câu 3. Nội dung của văn bản này là gì?
Câu 4. Chỉ ra và phân tích tác dụng của yếu tố kì ảo trong văn bản.
Câu 5. Qua văn bản, em rút ra được những bài học nào?
Quảng cáo
1 câu trả lời 81
BÀI 1
Câu 1.
→ Thể loại: Truyện truyền kì (văn xuôi tự sự trung đại có yếu tố kì ảo)
Câu 2.
→ Chủ đề:
Ca ngợi tình yêu chân thành, thủy chung; đồng thời phê phán quan niệm môn đăng hộ đối, coi trọng giàu nghèo trong xã hội phong kiến.
Câu 3.
Người cha ngăn cản vì:
→ Chê Nguyễn Sinh nghèo, không xứng với con gái mình.
Nhận xét:
→ Ích kỉ, coi trọng vật chất, thiếu tôn trọng tình cảm của con → dẫn đến bi kịch.
Câu 4.
Chi tiết kì ảo:
→ Khối đá đỏ có hình chàng lái đò; khi gặp Nguyễn Sinh thì tan thành máu.
Tác dụng:
→ Thể hiện tình yêu sâu nặng, thủy chung của cô gái.
→ Làm câu chuyện cảm động, giàu giá trị nhân văn.
→ Tăng tính li kì, hấp dẫn.
Câu 5.
→ Gợi ý (5–7 dòng):
Trong xã hội phong kiến, con người luôn khao khát một tình yêu tự do, chân thành nhưng thường bị lễ giáo và định kiến giàu nghèo ngăn cản. Câu chuyện cho thấy tình yêu của đôi trai gái rất sâu sắc nhưng lại không được chấp nhận, dẫn đến bi kịch đau lòng. Điều đó khiến ta thêm trân trọng tình yêu chân thật và phê phán những quan niệm cổ hủ đã tước đi hạnh phúc của con người. Ngày nay, chúng ta cần biết bảo vệ tình yêu chân chính và sống theo tình cảm chứ không nên đặt nặng vật chất.
BÀI 2
Câu 1.
→ Thể loại: Truyện truyền kì
Câu 2.
→ Tình huống:
Khi trở về, Từ Thức thấy mọi thứ thay đổi, thời gian đã trôi qua hàng chục năm → lạc lõng, không còn thuộc về thế giới cũ.
Câu 3.
Không gian:
→ Kì ảo (cõi tiên) ↔ hiện thực (trần gian)
Thời gian:
→ Khác biệt, trôi nhanh (cõi tiên) – trôi chậm (trần gian)
→ Nhận xét:
Tạo cảm giác hư ảo, nhấn mạnh sự cách biệt giữa hai thế giới.
Câu 4.
Yếu tố kì ảo:
→ Xe mây hóa chim bay mất / thời gian lệch nhau giữa tiên và trần
Tác dụng:
→ Làm nổi bật tính chất kì bí
→ Thể hiện quy luật khác biệt giữa hai thế giới
→ Góp phần tạo kết thúc buồn, giàu ý nghĩa triết lí
Câu 5.
→ Gợi ý:
Hành động rời bỏ tất cả để vào núi cho thấy Từ Thức là người sống nặng tình, nhưng cũng lạc lõng giữa hai thế giới. Điều đó gợi lên nỗi tiếc nuối về hạnh phúc đã mất và cho thấy con người khó có thể dung hòa giữa thực và mộng. Qua đó, ta hiểu rằng cần biết trân trọng hiện tại, đừng để mất rồi mới hối tiếc.
BÀI 3
Câu 1.
→ Phương thức biểu đạt chính: Tự sự
Câu 2.
→ Ngôi kể: Ngôi thứ ba
Câu 3.
→ Nội dung:
Kể về con chó Hàn Lư trung thành, có nghĩa với chủ → qua đó ca ngợi lòng trung nghĩa và phê phán con người thiếu đạo đức.
Câu 4.
Yếu tố kì ảo:
→ Con chó nói được tiếng người
Tác dụng:
→ Làm câu chuyện sinh động, hấp dẫn
→ Giúp bộc lộ tư tưởng trung nghĩa rõ ràng
→ Tăng tính giáo huấn, phê phán con người
Câu 5.
→ Bài học:
Phải trung thành, biết ơn
Sống có đạo đức, nghĩa tình
Không vì lợi ích mà phản bội, thay đổi lập trường
Con người cần giữ phẩm chất tốt đẹp, nếu không sẽ “không bằng loài vật”
Quảng cáo
Bạn cần hỏi gì?
Câu hỏi hot cùng chủ đề
-
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
87775 -
Hỏi từ APP VIETJACK73699
-
56910
-
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
47306 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
41263 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
39539 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
37752 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
32341
