Nội dung truyện thơ Nôm Tú Uyên - Giáng Kiều
TÚ UYÊN – GIÁNG KIỀU
(Trích)
Lần trăng ngơ ngẩn ra về,
Đèn thông khêu cạn, giấc hoè (1) chưa nên.
Nỗi nàng canh cánh nào quên,
Vẫn còn quanh quẩn người tiên khéo là!
Bướm kia vương lấy sầu hoa,
Đoạn tương tư ấy nghĩ mà buồn tênh!
Có khi gảy khúc đàn tranh,
Nước non ngao ngán ra tình hoài nhân (2)
Cầu hoàng (3) tay lựa nên vần,
Tương Như lòng ấy, Văn Quân (4) lòng nào!
Có khi chuốc chén rượu đào,
Tiệc mời chưa cạn,ngọc giao (5) đã đầy
Quảng cáo
4 câu trả lời 106
Phân tích, đánh giá nội dung và nghệ thuật đoạn trích truyện thơ Nôm Tú Uyên – Giáng Kiều
Truyện thơ Nôm Tú Uyên – Giáng Kiều là một tác phẩm tiêu biểu của văn học trung đại Việt Nam, ca ngợi vẻ đẹp của tình yêu tự do, trong sáng và giàu chất mộng mơ. Đoạn trích trên đã thể hiện sâu sắc tâm trạng nhớ thương, khắc khoải của nhân vật Giáng Kiều khi xa Tú Uyên, qua đó làm nổi bật giá trị nhân văn của tác phẩm.
Về nội dung, đoạn trích tập trung khắc họa nỗi nhớ và sự tương tư da diết của Giáng Kiều. Không gian đêm khuya với “trăng ngơ ngẩn”, “đèn thông khêu cạn” gợi nên một khung cảnh tĩnh lặng, vắng vẻ, càng làm nổi bật nỗi cô đơn của nhân vật. Trong hoàn cảnh ấy, Giáng Kiều không thể nào quên hình bóng người mình yêu. Nỗi nhớ ấy hiện lên “canh cánh”, day dứt, quanh quẩn trong tâm trí nàng. Hình ảnh ước lệ “bướm vương sầu hoa” đã tinh tế diễn tả trạng thái tương tư, nhớ nhung đến buồn tê tái. Nỗi nhớ không chỉ tồn tại trong suy nghĩ mà còn thấm sâu vào từng hành động, từng khoảnh khắc sinh hoạt của Giáng Kiều: khi gảy đàn tranh, khi nâng chén rượu đào. Dù làm gì, nàng cũng hướng lòng mình về Tú Uyên. Qua đó, tác phẩm ca ngợi một tình yêu chân thành, sâu sắc, vượt lên những giới hạn thông thường của xã hội phong kiến.
Không chỉ có giá trị nội dung, đoạn trích còn đặc sắc về nghệ thuật. Trước hết là nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đặc trưng của văn học trung đại. Cảnh vật thiên nhiên như trăng, đèn, đêm khuya đều nhuốm màu tâm trạng, phản chiếu nỗi buồn và sự cô đơn của nhân vật. Bên cạnh đó, tác giả sử dụng nhiều hình ảnh ước lệ, điển cố quen thuộc như Tương Như – Văn Quân, đàn tranh, rượu đào… để gợi lên vẻ đẹp tao nhã, tinh tế của tình yêu và tâm hồn con người. Ngôn ngữ truyện thơ Nôm giàu nhạc điệu, mềm mại, giàu cảm xúc, góp phần diễn tả tinh tế những rung động nội tâm sâu kín của nhân vật nữ. Việc sử dụng thể thơ lục bát cũng khiến đoạn trích trở nên gần gũi, dễ đi vào lòng người.
Tóm lại, đoạn trích Tú Uyên – Giáng Kiều đã thể hiện thành công vẻ đẹp của tình yêu chung thủy, nỗi nhớ thương sâu nặng của con người trong xã hội xưa. Với nội dung giàu ý nghĩa nhân văn và nghệ thuật biểu đạt tinh tế, tác phẩm không chỉ phản ánh đời sống tâm hồn con người mà còn để lại nhiều xúc động cho người đọc hôm nay.
Trong kho tàng văn học trung đại Việt Nam, truyện thơ Nôm Tú Uyên – Giáng Kiều là một tác phẩm tiêu biểu viết về tình yêu lãng mạn, thủy chung giữa chốn trần gian và cõi tiên. Đoạn trích đã thể hiện sâu sắc tâm trạng nhớ thương, khắc khoải của Giáng Kiều khi phải xa Tú Uyên, đồng thời cho thấy những nét nghệ thuật đặc sắc mang đậm màu sắc thơ ca cổ điển.
Trước hết, về nội dung, đoạn trích tập trung khắc họa nỗi nhớ nhung da diết của Giáng Kiều. Trong không gian tĩnh lặng của đêm khuya, “trăng ngơ ngẩn ra về”, “đèn thông khêu cạn”, thời gian dường như trôi chậm lại, càng làm nổi bật sự trống trải trong lòng người thiếu phụ. Nỗi nhớ ấy “canh cánh nào quên”, luôn “quanh quẩn người tiên”, cho thấy hình bóng Tú Uyên không lúc nào rời khỏi tâm trí Giáng Kiều. Nàng sống trong tâm trạng tương tư, buồn bã, mòn mỏi chờ mong, nỗi buồn lan sang cả cảnh vật: “Bướm kia vương lấy sầu hoa”, cảnh cũng nhuốm màu tâm trạng, gợi lên nỗi cô đơn thăm thẳm.
Không chỉ buồn nhớ, Giáng Kiều còn tìm cách giãi bày nỗi lòng qua những thú vui tao nhã của người xưa: gảy đàn, uống rượu, làm thơ. Tiếng đàn tranh mang theo “nước non ngao ngán”, lời đàn chính là tiếng lòng hoài nhân khắc khoải. Hình ảnh nàng lựa vần “cầu hoàng” gợi tích Tương Như – Văn Quân cho thấy sự đồng điệu của những mối tình đẹp trong lịch sử, qua đó khẳng định tình yêu của Giáng Kiều là chân thành, sâu nặng và cao quý. Nỗi nhớ thương ấy không chỉ là cảm xúc nhất thời mà trở thành tình yêu thủy chung, bền bỉ, vượt lên cả ranh giới trần – tiên.
Bên cạnh nội dung giàu giá trị nhân văn, đoạn trích còn nổi bật bởi nghệ thuật biểu đạt tinh tế. Trước hết là bút pháp tả cảnh ngụ tình: cảnh trăng, đèn, bướm, hoa đều mang tâm trạng buồn thương, góp phần khắc sâu cảm xúc cô đơn của nhân vật. Hình ảnh thơ ước lệ, giàu tính tượng trưng, kết hợp với ngôn ngữ giàu nhạc điệu, tạo nên giọng điệu trữ tình, da diết. Việc sử dụng điển tích Tương Như – Văn Quân giúp nâng tầm cảm xúc, làm cho tình yêu trong truyện mang vẻ đẹp lý tưởng, trang trọng và cao quý.
Tóm lại, đoạn trích Tú Uyên – Giáng Kiều đã thể hiện sâu sắc nỗi nhớ thương và tình yêu thủy chung của Giáng Kiều dành cho Tú Uyên. Với nghệ thuật tả cảnh ngụ tình, hình ảnh ước lệ giàu sức gợi cùng giọng thơ trữ tình, tác phẩm không chỉ làm rung động lòng người mà còn góp phần khẳng định vẻ đẹp của tình yêu chung thủy trong văn học trung đại Việt Nam.
Bài làm: Phân tích đoạn trích Tú Uyên – Giáng Kiều
"Bích Câu kỳ ngộ" là một trong những truyện thơ Nôm tiêu biểu của văn học trung đại Việt Nam, kết hợp hài hòa giữa yếu tố kỳ ảo và hiện thực. Đoạn trích miêu tả tâm trạng của chàng sinh viên nghèo Tú Uyên sau khi gặp người đẹp Giáng Kiều tại chùa Ngọc Hồ đã để lại ấn tượng sâu sắc bởi cách khắc họa nỗi nhớ nhung da diết qua những vần thơ lục bát tài hoa.
Về nội dung, đoạn trích tập trung thể hiện nỗi lòng tương tư của Tú Uyên. Sau cuộc gặp gỡ tình cờ "dưới bóng trăng", chàng trở về với tâm trạng "ngơ ngẩn" – một trạng thái mất phương hướng vì tâm trí đã gửi gắm nơi người thiếu nữ. Tác giả sử dụng những hình ảnh ước lệ như "đèn thông khêu cạn", "giấc hòe chưa nên" để diễn tả sự trằn trọc, thao thức suốt đêm dài. Nỗi nhớ ấy không chỉ dừng lại ở suy nghĩ mà đã thấm đẫm vào mọi hành động thường nhật. Tú Uyên tìm đến tiếng đàn ("gảy khúc đàn tranh") và chén rượu ("chuốc chén rượu đào") để giải khuây, nhưng càng giải sầu thì nỗi nhớ lại càng thêm mênh mang. Việc mượn điển tích "Cầu hoàng", "Tương Như - Văn Quân" không chỉ nâng tầm vẻ đẹp của tình yêu mà còn khẳng định sự chân thành, thiết tha và khát khao lứa đôi mãnh liệt của chàng trai trẻ.
Về nghệ thuật, đoạn trích thể hiện bút pháp miêu tả tâm lý nhân vật bậc thầy. Tác giả đã sử dụng linh hoạt các từ láy biểu cảm như "ngơ ngẩn", "canh cánh", "quanh quẩn", "ngao ngán" để cụ thể hóa những cung bậc khác nhau của tình sầu. Nghệ thuật đối lập giữa không gian tĩnh lặng của đêm khuya với sự xao động trong lòng nhân vật giúp người đọc cảm nhận rõ nét sự cô độc của Tú Uyên. Thể thơ lục bát uyển chuyển, giàu nhạc điệu, kết hợp với các hình ảnh ẩn dụ (bướm vương sầu hoa, nước non ngao ngán) đã tạo nên một không gian nghệ thuật vừa cổ kính, vừa đậm chất trữ tình.
Tóm lại, đoạn trích "Tú Uyên – Giáng Kiều" không chỉ thành công trong việc miêu tả một tình yêu chớm nở mà còn tôn vinh vẻ đẹp tâm hồn của con người trước tình yêu. Qua đó, tác phẩm khẳng định giá trị nhân văn sâu sắc: khát vọng tìm kiếm hạnh phúc và sự giao cảm giữa người với người trong xã hội cũ.
Quảng cáo
Bạn cần hỏi gì?
Câu hỏi hot cùng chủ đề
-
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
84946 -
Hỏi từ APP VIETJACK72888
-
56216
-
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
45901 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
40724 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
38120 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
36902 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
31906
