Quảng cáo
1 câu trả lời 205
Để tìm góc giới hạn phản xạ toàn phần khi ánh sáng truyền từ thủy tinh sang không khí, ta có thể sử dụng định luật khúc xạ ánh sáng (định luật Snell):
\[
n_1 \sin \theta_1 = n_2 \sin \theta_2
\]
Trong đó:
- \( n_1 \) là chỉ số khúc xạ của môi trường đầu (thủy tinh, \( n_1 = 1.5 \))
- \( n_2 \) là chỉ số khúc xạ của môi trường sau (khoảng không khí, \( n_2 \approx 1.0 \))
- \( \theta_1 \) là góc tới (60 độ)
- \( \theta_2 \) là góc khúc xạ
Áp dụng định luật Snell:
\[
1.5 \sin(60^\circ) = 1.0 \sin(\theta_2)
\]
Tính giá trị \( \sin(60^\circ) \):
\[
\sin(60^\circ) = \frac{\sqrt{3}}{2}
\]
Thay giá trị vào phương trình:
\[
1.5 \cdot \frac{\sqrt{3}}{2} = \sin(\theta_2)
\]
Giải phương trình:
\[
\sin(\theta_2) = \frac{1.5 \sqrt{3}}{2} \approx 1.299
\]
Như vậy, giá trị của \( \sin(\theta_2) \) lớn hơn 1, điều này cho thấy rằng không có góc khúc xạ trong trường hợp này, và mô hình hệ thống cho thấy hiện tượng phản xạ toàn phần xảy ra.
**Góc giới hạn phản xạ toàn phần** được tính bằng cách tìm giá trị \( \theta_c \) mà tại đó góc khúc xạ bằng 90 độ:
Sử dụng công thức:
\[
\sin(\theta_c) = \frac{n_2}{n_1} = \frac{1.0}{1.5}
\]
Tính toán:
\[
\sin(\theta_c) = \frac{2}{3} \approx 0.6667
\]
Sau đó, tính góc giới hạn:
\[
\theta_c = \arcsin(0.6667) \approx 41.8^\circ
\]
### Kết luận
- **Góc tới (60 độ)** lớn hơn **góc giới hạn phản xạ toàn phần (41.8 độ)**, do đó ánh sáng không bị khúc xạ mà sẽ phản xạ toàn phần. Así, **góc khúc xạ không tồn tại trong trường hợp này**.
Quảng cáo
Bạn cần hỏi gì?
Câu hỏi hot cùng chủ đề
-
Đã trả lời bởi chuyên gia
94357 -
Hỏi từ APP VIETJACK
Đã trả lời bởi chuyên gia
76755 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
51419 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
33781 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
29365

