Quảng cáo
2 câu trả lời 355
AN bao gồm tất cả các quốc gia Đông Nam á, một ASEAN của Đông Nam á và vì Đông Nam á.Các nước ASEAN (trừ Thái Lan) đều trải qua giai đoạn lịch sử là thuộc địa của các nước phương Tây và giành được độc lập vào các thời điểm khác nhau sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Mặc dù ở trong cùng một khu vực địa lý, song các nước ASEAN rất khác nhau về chủng tộc, ngôn ngữ, tôn giáo và văn hoá, tạo thành một sự đa dạng cho Hiệp hội.
ASEAN có diện tích hơn 4.5 triệu km2 với dân số khoảng 600 triệu người(năm 2010); Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thực tế của toàn bộ các nước ASEAN ở mức 2,57 nghìn tỷ USD (năm 2014). Nhờ sự tăng trưởng GDP bền vững, GDP bình quân đầu người đã tăng lên mức 4.130 USD trong năm 2014 từ mức 3.908 USD của năm 2013. Khu vực dịch vụ tiếp tục là nhân tố đóng góp lớn nhất cho tăng trưởng kinh tế khu vực khi chiếm tới 50,1% tổng mức GDP năm 2014.
Các nước ASEAN có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và hiện nay đang đứng hàng đầu thế giới về cung cấp một số nguyên liệu cơ bản như: cao su (90% sản lượng cao su thế giới); thiếc và dầu thực vật (90%), gỗ xẻ (60%), gỗ súc (50%), cũng như gạo, đường dầu thô, dứa... Công nghiệp của các nước thành viên ASEAN cũng đang trên đà phát triển, đặc biệt trong các lĩnh vực: dệt, hàng điện tử, hàng dầu, các loại hàng tiêu dùng. Những sản phẩm này được xuất khẩu với khối lượng lớn và đang thâm nhập một cách nhânh chóng vào các thị trường thế giới. ASEAN là khu vực có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao so với các khu vực khác trên thế giới, và được coi là tổ chức khu vực thành công nhất của các nước đang phát triển.
ASEAN chính thức thành lập ngày 8-8-1967. Về mặt thời gian từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, ASEAN là tổ chức thứ ba mang tính khu vực ra đời sau Cộng đồng kinh tế châu Âu (EEC - 1957), Tổ chức thống nhất châu Phi (OAU - 1963) và trước các tổ chức khác ở Nam Á (SAARC - 1985), Nam Mỹ (MERCOSUR - 1991), Bắc Mỹ (NAFTA - 1992) v.v.. Điều đó cho thấy việc thành lập ASEAN là đi theo đúng xu hướng khu vực hóa, tạo nên sự liên kết khu vực trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày càng mở rộng và chi phối mọi hoạt động trên toàn thế giới.
Nhưng bối cảnh lịch sử ra đời của ASEAN có đôi nét khác biệt. Trong khi các tổ chức ở châu Âu, châu Phi, châu Mỹ, Nam Á được thành lập trong điều kiện hòa bình, mục tiêu chủ yếu là hợp tác phát triển kinh tế thì Đông - Nam Á lại là một điểm nóng trong thời kỳ "chiến tranh lạnh". Cuộc chiến tranh do Mỹ tiến hành từ Việt Nam lan ra toàn Đông Dương và có tác động mạnh mẽ đến toàn khu vực. Do vậy, tuy đề ra mục tiêu hợp tác về kinh tế và xã hội, nhưng do tình hình chiến tranh Đông Dương, vấn đề chính trị và an ninh khu vực lại trở thành mục tiêu đặc biệt quan trọng, chi phối hoạt động của ASEAN trong một phần tư thế kỷ tiếp theo.
Bản Tuyên bố Cu-a-la Lăm-pơ năm 1971 về Khu vực Hòa bình, Tự do và Trung lập (ZOPFAN) cho thấy mối quan tâm hàng đầu của 5 nước sáng lập ASEAN khi đó là xây dựng Đông - Nam Á thành một khu vực hòa bình, tự do và trung lập. Nó giải tỏa những bất đồng đã xảy ra giữa các nước thành viên như phản ứng của In-đô-nê-xi-a và Phi-lip-pin đối với việc thành lập Liên bang Ma-lai-xi-a, làn sóng biểu tình ở Gia-các-ta chống bản án của Xin-ga-po hành hình hai sĩ quan thủy quân In-đô-nê-xi-a về tội làm gián điệp... Song, điều quan trọng hơn là nó phản ánh nỗi lo ngại về khói lửa chiến tranh Đông Dương sẽ lan sang các nước trong khu vực. Trong bối cảnh trật tự thế giới hai cực thì nội dung đó cũng ẩn chứa ý đồ muốn ngăn chặn ảnh hưởng cách mạng đối với các nước Đông - Nam Á ngoài Đông Dương, "ngăn chặn làn sóng cộng sản" theo cách nói của chính khách và học giả phương Tây hồi đó. Cho nên ngay từ đầu, ASEAN đã gây nên tâm lý nghi ngại giữa hai khối nước ở Đông - Nam Á, nhất là khi trước đó đã có tổ chức quân sự SEATO của Mỹ với sự tham gia của 2 thành viên ASEAN. Trong 7 - 8 năm đầu tiên, bản thân ASEAN chưa hoạt động được bao nhiêu, mối quan hệ Việt Nam - ASEAN còn đang trong giai đoạn thăm dò và lạnh nhạt. Tuy nhiên, sự thành lập ASEAN cũng đánh dấu một bước khởi động quan trọng cho một tổ chức toàn khu vực, nhất là sau khi chiến tranh lạnh kết thúc.
Năm 1976 - Hiệp ước Ba-li, bước khởi đầu của sự hợp tác khu vực
Tình hình chiến tranh Đông Dương diễn biến rất nhanh với những tiến triển của cách mạng Việt Nam: năm 1973 Hiệp định Pa-ri được ký kết, năm 1975 cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kết thúc thắng lợi.
Đông - Nam Á bước sang một thời kỳ mới, quân Mỹ rút khỏi Đông Dương, tổ chức SEATO chuẩn bị giải thể (chính thức cuốn cờ vào năm1977). Đứng trước tình hình mới của một Đông - Nam Á hòa bình, cả hai phía đều tính đến việc điều chỉnh chính sách khu vực. Tháng 2-1976 các nguyên thủ ASEAN ký bản "Hiệp ước Thân hữu và Hợp tác" (thường gọi là Hiệp ước Ba-li). Tháng 7 cùng năm, chính phủ Việt Nam ra bản "Tuyên bố về Chính sách bốn điểm đối với Đông - Nam Á". Nội dung cơ bản của hai văn kiện đó có nhiều điểm giống nhau: tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa vũ lực đối với nhau, giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp thương lượng hòa bình, xây dựng quan hệ hữu nghị và hợp tác. Điều đó cho thấy cả hai bên đều hướng tới một Đông - Nam Á hòa bình, tôn trọng lẫn nhau và hợp tác cùng phát triển. Đây chính là mẫu số chung phản ánh nguyện vọng chính đáng và lợi ích thiết thực của các nước Đông - Nam Á mặc dù có sự khác biệt về chế độ chính trị và xã hội. Tiếp sau đó, trong những năm 1976 - 1978, quan hệ Việt Nam - ASEAN được cải thiện đáng kể, hé mở những khả năng đầy triển vọng. Nhưng từ cuối năm 1978, do tác động từ các nước lớn bên ngoài, Đông - Nam Á mất đi không khí hòa bình vừa mới xuất hiện, rơi vào tình trạng mất ổn định, có lúc đứng bên bờ của nguy cơ chiến tranh mới. Rõ ràng tâm lý lo ngại, thiếu tin cậy vốn đã ăn sâu trong thời "chiến tranh lạnh" nay lại được khơi dậy, bị lợi dụng và hai khối nước Đông - Nam Á lại rơi vào thế đối đầu.
Phải đến giữa thập niên 80, khi tình hình thế giới bắt đầu thay đổi theo xu hướng hòa dịu thì Đông - Nam Á cũng chuyển biến theo chiều hướng mới. Cả hai phía đi tìm giải pháp để gỡ rối cho "vấn đề Cam-pu-chia", khôi phục các hoạt động giao lưu, mở đường tiến tới sự hòa giải chính trị trong quan hệ quốc tế ở khu vực.
Năm 1995 - Việt Nam gia nhập ASEAN, mở ra thời kỳ hòa nhập cùng phát triển ở Đông - Nam Á
Tháng 7-1995 Việt Nam chính thức là thành viên ASEAN. Đây là sự kiện mới, kết thúc thời kỳ căng thẳng và đối đầu, mở ra thời kỳ hòa nhập cùng phát triển. Tiếp sau Việt Nam là các nước Lào, Mi-an-ma, Cam-pu-chia lần lượt gia nhập ASEAN. Hiệp hội các quốc gia Đông - Nam Á trở thành một tổ chức liên kết toàn khu vực đúng như tên gọi của nó.
Đối với Việt Nam, sự việc này là thành quả của quá trình Đổi mới được khởi động từ năm 1986. Giữa hai kỳ đại hội lần thứ VI và thứ VII của Đảng, Đảng ta đã từng bước hoạch định đường lối đối ngoại Đổi mới, đặt trọng tâm giải quyết tình hình Cam-pu-chia và giải tỏa mối quan hệ láng giềng trong khu vực, thực hiện phương châm đa phương hóa, đa dạng hóa trong quan hệ với các nước. Theo đường hướng đó, quan hệ đối ngoại của Việt Nam được cải thiện cơ bản với Trung Quốc, Mỹ, EU và nhiều nước khác. Trong không khí hòa dịu ở Đông - Nam Á, năm 1992, Việt Nam (và Lào) tham gia Hiệp ước Ba-li, mở đầu cho giai đoạn tích cực chuẩn bị gia nhập ASEAN. Hoạt động này nhằm tạo dựng một môi trường khu vực thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, đồng thời bắc cầu vào những sân chơi có tầm vóc rộng lớn hơn.
Quảng cáo
Bạn cần hỏi gì?
Câu hỏi hot cùng chủ đề
-
Hỏi từ APP VIETJACK52824
-
44739
-
Đã trả lời bởi chuyên gia
39250 -
36621
-
Đã trả lời bởi chuyên gia
35685 -
34946
-
33517
