Quảng cáo
3 câu trả lời 385
Bàn về thơ, Hoài Thanh từng khẳng định: “Từ bao giờ đến bây giờ, từ Homero đến kinh thi, đến ca dao Việt Nam, thơ vẫn là một sức đồng cảm mãnh liệt và quảng đại. Nó đã ra đời giữa những vui buồn của loài người và nó sẽ kết bạn với loài người cho đến ngày tận thế”. Thơ ca từ lâu đã trở thành nơi trú ngụ cho những tâm hồn đa cảm, ở đó, nó cất lên cây đàn muôn điệu về cuộc đời, về sự sống. Và khi bắt gặp hồn thơ Hồ Xuân Hương, ta nhận ra đó là tiếng lòng của nỗi đắng cay, tủi cực nhưng cũng tràn đầy khao khát yêu thương mãnh liệt:
“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn,
Trơ cái hồng nhan với nước non”
Giữa đêm khuya thanh vắng nghe rõ từng hồi trống điểm nhịp, nhân vật trữ tình lại có dịp nhìn sâu vào cõi lòng, để mặc cho nỗi cô đơn gặm nhấm tâm hồn, để rồi nhận ra bản thân trong tình cảnh chua xót: “Trơ cái hồng nhan với nước non”. Chỉ một từ “trơ” nhưng dường như gói gọn biết bao mối ngổn ngang trong lòng người phụ nữ. Đó là sự tủi hổ, bẽ bàng khi ngẫm ngợi về thân phận nhỏ bé của bản thân. Ngược lại, “trơ” cũng mang theo sự táo bạo, thách thức vì dám thể hiện bản lĩnh của phận nữ nhi khi đặt “hồng nhan” sánh ngang với vũ trụ.
Tưởng rượu say sẽ có thể làm dịu nỗi đau đớn, tuyệt vọng trong chốc lát nhưng một lần nữa, hiện thực phũ phàng lại đưa con người từ cõi vô thức trở về tỉnh thức:
“Chén rượu hương đưa say lại tỉnh
Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”
Nỗi bẽ bàng, tủi hồ ấy đã từng được Thúy Kiều thốt lên qua những câu thơ thương thân trách phận:
“Khi tỉnh rượu lúc tàn canh
Giật mình mình lại thương mình xót xa”
Còn với người phụ nữ đã từng qua mấy lần đò như Hồ Xuân Hương, đó là lời thở than về một tuổi xuân đã đến hồi xế bóng, về một hạnh phúc chưa trọn vẹn. “Nước chảy chân cầu/ Đời người bóng câu”, tuổi xuân của người con gái lại càng ngắn ngủi. Có lẽ trong câu thơ ấy là bao giọt nước mắt đắng cay, cả sự uất ức bẽ bàng vì những nỗi truân chuyên của “khách má hồng”.
Thời phong kiến, người phụ nữ thường an phận với những mặc định mà xã hội đóng khung cho phái yếu. Đó là những lễ nghi hà khắc, là tam tòng tứ đức, sự đảm đang, thùy mị, nết na. Vậy mà ở đây, Hồ Xuân Hương chẳng những dám thể hiện cá tính riêng mà còn cho thấy những mầm mống tỉnh thức của tinh thần phản khác:
“Xiên ngang mặt đất rêu từng đám
Đâm toạc chân mây đá mấy hòn”
Chẳng phải là liễu rủ thướt tha, cũng không là tùng cúc trúc mai thường thấy trong thơ trung đại, Hồ Xuân Hương đã chọn những sự vật hết sức nhỏ bé, tầm thường nhưng ẩn chứa sức mạnh to lớn. Ẩn sau câu thơ dường như là lớp sóng lòng đang dội lên từng đợt: xiên ngang mặt đất và đâm toạc chân mây. Qua đó, Hồ Xuân Hương dường như đang ngầm thách thức, chống lại cả những định kiến, hủ tục mà xã hội phong kiến áp đặt lên người phụ nữ để có thể chủ động trong tình yêu và hạnh phúc của đời mình.
Bi kịch tình yêu muôn đời vẫn là nỗi thống khổ, bất hạnh của người phụ nữ. Để rồi giờ đây, phận hồng nhan đã từng khát khao, ước vọng lại đành trở về với nỗi tủi hổ, bẽ bàng:
“Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại
Mảnh tình san sẻ tí con con”
“Xuân đi xuân lại lại” giờ đây chỉ còn là vòng lặp vô hồn, vô vị của cuộc sống. Thời gian thì cứ trôi, mùa xuân vẫn trở lại nhưng nó lại bào mòn tuổi xuân của con người, làm vơi dần hạnh phúc vốn đã ngắn ngủi. Nhưng càng đáng ngán hơn là một mảnh tình vốn đã nhỏ bé nay lại càng trở nên bé nhỏ hơn vì chia năm xẻ bảy. Nỗi niềm của phận làm lẽ ấy, Hồ Xuân Hương là người hiểu rõ hơn ai hết, vậy nên tiếng thơ của bà vừa có cái chua xót, vừa đong đầy vị mặn của tủi hổ, uất ức.
Những cay đắng của cuộc đời đã từng có lúc khiến cho Hồ Xuân Hương phải ngao ngán, tuyệt vọng nhưng nó cũng làm trỗi dậy khao khát yêu thương, đồng thời bộc lộ những góc cạnh trong tâm hồn, bản lĩnh của một cái tôi hiếm có.
Bàn về thơ, Hoài Thanh từng khẳng định: “Từ bao giờ đến bây giờ, từ Homero đến kinh thi, đến ca dao Việt Nam, thơ vẫn là một sức đồng cảm mãnh liệt và quảng đại. Nó đã ra đời giữa những vui buồn của loài người và nó sẽ kết bạn với loài người cho đến ngày tận thế”. Thơ ca từ lâu đã trở thành nơi trú ngụ cho những tâm hồn đa cảm, ở đó, nó cất lên cây đàn muôn điệu về cuộc đời, về sự sống. Và khi bắt gặp hồn thơ Hồ Xuân Hương, ta nhận ra đó là tiếng lòng của nỗi đắng cay, tủi cực nhưng cũng tràn đầy khao khát yêu thương mãnh liệt:
“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn,
Trơ cái hồng nhan với nước non”
Giữa đêm khuya thanh vắng nghe rõ từng hồi trống điểm nhịp, nhân vật trữ tình lại có dịp nhìn sâu vào cõi lòng, để mặc cho nỗi cô đơn gặm nhấm tâm hồn, để rồi nhận ra bản thân trong tình cảnh chua xót: “Trơ cái hồng nhan với nước non”. Chỉ một từ “trơ” nhưng dường như gói gọn biết bao mối ngổn ngang trong lòng người phụ nữ. Đó là sự tủi hổ, bẽ bàng khi ngẫm ngợi về thân phận nhỏ bé của bản thân. Ngược lại, “trơ” cũng mang theo sự táo bạo, thách thức vì dám thể hiện bản lĩnh của phận nữ nhi khi đặt “hồng nhan” sánh ngang với vũ trụ.
Tưởng rượu say sẽ có thể làm dịu nỗi đau đớn, tuyệt vọng trong chốc lát nhưng một lần nữa, hiện thực phũ phàng lại đưa con người từ cõi vô thức trở về tỉnh thức:
“Chén rượu hương đưa say lại tỉnh
Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”
Nỗi bẽ bàng, tủi hồ ấy đã từng được Thúy Kiều thốt lên qua những câu thơ thương thân trách phận:
“Khi tỉnh rượu lúc tàn canh
Giật mình mình lại thương mình xót xa”
Còn với người phụ nữ đã từng qua mấy lần đò như Hồ Xuân Hương, đó là lời thở than về một tuổi xuân đã đến hồi xế bóng, về một hạnh phúc chưa trọn vẹn. “Nước chảy chân cầu/ Đời người bóng câu”, tuổi xuân của người con gái lại càng ngắn ngủi. Có lẽ trong câu thơ ấy là bao giọt nước mắt đắng cay, cả sự uất ức bẽ bàng vì những nỗi truân chuyên của “khách má hồng”.
Thời phong kiến, người phụ nữ thường an phận với những mặc định mà xã hội đóng khung cho phái yếu. Đó là những lễ nghi hà khắc, là tam tòng tứ đức, sự đảm đang, thùy mị, nết na. Vậy mà ở đây, Hồ Xuân Hương chẳng những dám thể hiện cá tính riêng mà còn cho thấy những mầm mống tỉnh thức của tinh thần phản khác:
“Xiên ngang mặt đất rêu từng đám
Đâm toạc chân mây đá mấy hòn”
Chẳng phải là liễu rủ thướt tha, cũng không là tùng cúc trúc mai thường thấy trong thơ trung đại, Hồ Xuân Hương đã chọn những sự vật hết sức nhỏ bé, tầm thường nhưng ẩn chứa sức mạnh to lớn. Ẩn sau câu thơ dường như là lớp sóng lòng đang dội lên từng đợt: xiên ngang mặt đất và đâm toạc chân mây. Qua đó, Hồ Xuân Hương dường như đang ngầm thách thức, chống lại cả những định kiến, hủ tục mà xã hội phong kiến áp đặt lên người phụ nữ để có thể chủ động trong tình yêu và hạnh phúc của đời mình.
Bi kịch tình yêu muôn đời vẫn là nỗi thống khổ, bất hạnh của người phụ nữ. Để rồi giờ đây, phận hồng nhan đã từng khát khao, ước vọng lại đành trở về với nỗi tủi hổ, bẽ bàng:
“Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại
Mảnh tình san sẻ tí con con”
“Xuân đi xuân lại lại” giờ đây chỉ còn là vòng lặp vô hồn, vô vị của cuộc sống. Thời gian thì cứ trôi, mùa xuân vẫn trở lại nhưng nó lại bào mòn tuổi xuân của con người, làm vơi dần hạnh phúc vốn đã ngắn ngủi. Nhưng càng đáng ngán hơn là một mảnh tình vốn đã nhỏ bé nay lại càng trở nên bé nhỏ hơn vì chia năm xẻ bảy. Nỗi niềm của phận làm lẽ ấy, Hồ Xuân Hương là người hiểu rõ hơn ai hết, vậy nên tiếng thơ của bà vừa có cái chua xót, vừa đong đầy vị mặn của tủi hổ, uất ức.
Những cay đắng của cuộc đời đã từng có lúc khiến cho Hồ Xuân Hương phải ngao ngán, tuyệt vọng nhưng nó cũng làm trỗi dậy khao khát yêu thương, đồng thời bộc lộ những góc cạnh trong tâm hồn, bản lĩnh của một cái tôi hiếm có.
Bàn về thơ, Hoài Thanh từng khẳng định: “Từ bao giờ đến bây giờ, từ Homero đến kinh thi, đến ca dao Việt Nam, thơ vẫn là một sức đồng cảm mãnh liệt và quảng đại. Nó đã ra đời giữa những vui buồn của loài người và nó sẽ kết bạn với loài người cho đến ngày tận thế”. Thơ ca từ lâu đã trở thành nơi trú ngụ cho những tâm hồn đa cảm, ở đó, nó cất lên cây đàn muôn điệu về cuộc đời, về sự sống. Và khi bắt gặp hồn thơ Hồ Xuân Hương, ta nhận ra đó là tiếng lòng của nỗi đắng cay, tủi cực nhưng cũng tràn đầy khao khát yêu thương mãnh liệt:
“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn,
Trơ cái hồng nhan với nước non”
Giữa đêm khuya thanh vắng nghe rõ từng hồi trống điểm nhịp, nhân vật trữ tình lại có dịp nhìn sâu vào cõi lòng, để mặc cho nỗi cô đơn gặm nhấm tâm hồn, để rồi nhận ra bản thân trong tình cảnh chua xót: “Trơ cái hồng nhan với nước non”. Chỉ một từ “trơ” nhưng dường như gói gọn biết bao mối ngổn ngang trong lòng người phụ nữ. Đó là sự tủi hổ, bẽ bàng khi ngẫm ngợi về thân phận nhỏ bé của bản thân. Ngược lại, “trơ” cũng mang theo sự táo bạo, thách thức vì dám thể hiện bản lĩnh của phận nữ nhi khi đặt “hồng nhan” sánh ngang với vũ trụ.
Tưởng rượu say sẽ có thể làm dịu nỗi đau đớn, tuyệt vọng trong chốc lát nhưng một lần nữa, hiện thực phũ phàng lại đưa con người từ cõi vô thức trở về tỉnh thức:
“Chén rượu hương đưa say lại tỉnh
Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”
Nỗi bẽ bàng, tủi hồ ấy đã từng được Thúy Kiều thốt lên qua những câu thơ thương thân trách phận:
“Khi tỉnh rượu lúc tàn canh
Giật mình mình lại thương mình xót xa”
Còn với người phụ nữ đã từng qua mấy lần đò như Hồ Xuân Hương, đó là lời thở than về một tuổi xuân đã đến hồi xế bóng, về một hạnh phúc chưa trọn vẹn. “Nước chảy chân cầu/ Đời người bóng câu”, tuổi xuân của người con gái lại càng ngắn ngủi. Có lẽ trong câu thơ ấy là bao giọt nước mắt đắng cay, cả sự uất ức bẽ bàng vì những nỗi truân chuyên của “khách má hồng”.
Thời phong kiến, người phụ nữ thường an phận với những mặc định mà xã hội đóng khung cho phái yếu. Đó là những lễ nghi hà khắc, là tam tòng tứ đức, sự đảm đang, thùy mị, nết na. Vậy mà ở đây, Hồ Xuân Hương chẳng những dám thể hiện cá tính riêng mà còn cho thấy những mầm mống tỉnh thức của tinh thần phản khác:
“Xiên ngang mặt đất rêu từng đám
Đâm toạc chân mây đá mấy hòn”
Chẳng phải là liễu rủ thướt tha, cũng không là tùng cúc trúc mai thường thấy trong thơ trung đại, Hồ Xuân Hương đã chọn những sự vật hết sức nhỏ bé, tầm thường nhưng ẩn chứa sức mạnh to lớn. Ẩn sau câu thơ dường như là lớp sóng lòng đang dội lên từng đợt: xiên ngang mặt đất và đâm toạc chân mây. Qua đó, Hồ Xuân Hương dường như đang ngầm thách thức, chống lại cả những định kiến, hủ tục mà xã hội phong kiến áp đặt lên người phụ nữ để có thể chủ động trong tình yêu và hạnh phúc của đời mình.
Bi kịch tình yêu muôn đời vẫn là nỗi thống khổ, bất hạnh của người phụ nữ. Để rồi giờ đây, phận hồng nhan đã từng khát khao, ước vọng lại đành trở về với nỗi tủi hổ, bẽ bàng:
“Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại
Mảnh tình san sẻ tí con con”
“Xuân đi xuân lại lại” giờ đây chỉ còn là vòng lặp vô hồn, vô vị của cuộc sống. Thời gian thì cứ trôi, mùa xuân vẫn trở lại nhưng nó lại bào mòn tuổi xuân của con người, làm vơi dần hạnh phúc vốn đã ngắn ngủi. Nhưng càng đáng ngán hơn là một mảnh tình vốn đã nhỏ bé nay lại càng trở nên bé nhỏ hơn vì chia năm xẻ bảy. Nỗi niềm của phận làm lẽ ấy, Hồ Xuân Hương là người hiểu rõ hơn ai hết, vậy nên tiếng thơ của bà vừa có cái chua xót, vừa đong đầy vị mặn của tủi hổ, uất ức.
Những cay đắng của cuộc đời đã từng có lúc khiến cho Hồ Xuân Hương phải ngao ngán, tuyệt vọng nhưng nó cũng làm trỗi dậy khao khát yêu thương, đồng thời bộc lộ những góc cạnh trong tâm hồn, bản lĩnh của một cái tôi hiếm có.
...Xem thêm
Quảng cáo
Bạn cần hỏi gì?
Câu hỏi hot cùng chủ đề
-
Hỏi từ APP VIETJACK74565
-
57623
-
Hỏi từ APP VIETJACK41780
-
Hỏi từ APP VIETJACK40615
