Quảng cáo
1 câu trả lời 340
Tình hình kinh tế năm 2005 diễn ra trong những điều kiện khó khăn cả trong nước và trên thế giới. Trong nước, thời tiết đối với nhiều địa phương không thuận: sáu tháng đầu năm hạn hán kéo dài, lượng nước thiếu hụt không những gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản, mà còn ảnh hưởng đến sản xuất điện và nước sinh hoạt của dân cư; 6 tháng cuối năm, mưa lớn, bão số 7 và bão số 8 làm ngập nhiều diện tích lúa mùa ở miền Bắc, miền Trung và ảnh hưởng đến năng suất; dịch cúm gia cầm tái phát ở một số địa phương. Trên thị trường thế giới, giá nhiều loại vật tư, nguyên liệu quan trọng như xăng dầu, sắt thép, phân bón, chất dẻo… tăng cao và diễn biến phức tạp đã gây áp lực tăng giá đầu vào cho sản xuất trong nước và tăng giá tiêu dùng. Do có sự chỉ đạo điều hành sát sao của Chính phủ ngay từ những tháng đầu năm và sự nỗ lực của các ngành, các cấp, các địa phương và toàn dân nhằm đạt được mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội cả năm 2005, năm cuối của kế hoạch 5 năm 2001-2005, kinh tế nước ta tiếp tục đạt mức tăng trưởng cao và phát triển tích cực, xã hội ổn định. Trên cơ sở cập nhật tình hình quí IV, Tổng cục Thống kê tổng hợp sơ bộ tình hình kinh tế-xã hội năm 2005 như sau:
A. TÌNH HÌNH KINH TẾ
Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế tổng hợp
Theo số liệu sơ bộ, tổng sản phẩm trong nước Quí IV tính theo gía so sánh năm 1994 tăng 9,2% so với quí IV năm trước, trong đó khu vực nông lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3% (nông nghiệp tăng 2%, lâm nghiệp tăng 1,2% và thuỷ sản tăng 12,5%); khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 12,3% (công nghiệp chế biến tăng mạnh (+14,7%); điện, ga và nước tăng 12,9% và xây dựng tăng 12,3%); khu vực dịch vụ tăng 9,3% (các ngành khách sạn, nhà hàng; vận tải bưu điện; tài chính là những ngành có giá trị tăng thêm lớn đạt tốc độ tăng từ 10% trở lên, đã góp phần tích cực cho tăng trưởng khu vực dịch vụ quí IV).
Tăng trưởng quí III thay đổi không nhiều so với ước tính từ tháng 9, song tốc độ tăng của các ngành và khu vực ngành kinh tế có thay đổi, đặc biệt là khu vực công nghiệp khai thác, do khai thác dầu khí vẫn tiếp tục giảm so với cùng kỳ năm trước và các biến động tích cực hơn của một số sản phẩm chế biến xuất khẩu.
Tính chung năm 2005, tổng sản phẩm trong nước tăng 8,4% so với năm 2004, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 4%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,6% và khu vực dịch vụ tăng 8,5%. Trong 8,4% tăng trưởng chung, đóng góp của các khu vực theo thứ tự đóng góp: công nghiệp và xây dựng 4,2 điểm phần trăm; dịch vụ 3,4 điểm phần trăm và nông lâm nghiệp thuỷ sản 0,8 điểm phần trăm.
Bảng 1. Tổng sản phẩm trong nước năm 2005
theo giá so sánh 1994
Tổng sản phẩm trong nước
(Tỷ đồng)
Tốc độ tăng so với năm 2004 (%)
Đóng góp của mỗi khu vực vào tốc độ tăng chung (%)
Tổng số
392989
8,4
8,4
Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
76905
4,0
0,8
Công nghiệp và xây dựng
157808
10,6
4,2
Riêng công nghiệp
123398
10,6
3,3
Dịch vụ
158276
8,5
3,4
Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm nay đạt mức tăng thấp hơn so với dự kiến từ tháng 9, chủ yếu do sản lượng lúa mùa ở các tỉnh miền Bắc giảm (ảnh hưởng trực tiếp của bão số 7, bão số 8) và thiệt hại do cúm gia cầm không những giảm tốc độ khôi phục tổng đàn mà còn giảm cầu tiêu dùng thịt gia cầm và các sản phẩm chế biến từ gia cầm do tâm lý người dân e ngại không muốn tiêu dùng gia cầm khi không rõ nguồn gốc. Tuy nhiên, trong khu vực này thuỷ sản tăng mạnh, do cầu trong nước tăng (bù vào thịt gia cầm và sản phẩm chế biến từ gia cầm) và xuất khẩu tăng so với năm trước, nhất là những tháng cuối năm. Lâm nghiệp tăng nhẹ, chủ yếu do tăng sản lượng gỗ khai thác.
Khu vực công nghiệp và xây dựng đạt mức tăng trưởng 10,6%, trong đó giá trị tăng thêm của khu vực công nghiệp chế biến tăng 13,1% (9 tháng tăng 12,5%, cao hơn mức tăng 11% đã ước tính vào cuối tháng 9 và công nghiệp chế biến quí IV tăng 14,7%); giá trị tăng thêm của công nghiệp khai thác năm nay chỉ tăng 0,9%, chủ yếu do dầu thô khai thác trong suốt cả 4 quí đều thấp hơn sản lượng cùng quí tương ứng của năm 2004 và sản lượng dầu thô khai thác cả năm cũng chỉ đạt mức 92,3% sản lượng năm 2004. Công nghiệp điện, ga, nước tăng 12,2%; xây dựng tăng 10,8%.
Khu vực dịch vụ có mức tăng trưởng 8,5%, cao hơn hẳn mức tăng trưởng 7,3% của năm 2004. Trong khu vực này, các ngành có tỷ trọng lớn và thuộc lĩnh vực dịch vụ kinh doanh như thương nghiệp; khách sạn, nhà hàng; vận tải, bưu điện, du lịch; tài chính, ngân hàng, bảo hiểm đều có mức tăng cao hơn so với mức tăng của từng ngành trong năm trước: Thương nghiệp năm nay tăng 8,3% (năm 2004 tăng 7,8%); Khách sạn nhà hàng tăng 17% (2004 tăng 8,1%); Vận tải, bưu điện, du lịch tăng 9,6% (2004 tăng 8,1%)…
Do khu vực công nghiệp và xây dựng tiếp tục tăng trưởng cao hơn mức tăng chung và tăng nhanh hơn các khu vực khác nên cơ cấu kinh tế ngành tiếp tục chuyển dịch theo chiều hướng tăng ở khu vực công nghiệp, xây dựng và giảm ở khu vực nông, lâm nghiệp, thuỷ sản.
Bảng 2. Tỷ trọng các khu vực kinh tế
trong tổng sản phẩm trong nước
%
2001
2002
2003
2004
2005
Tổng số
100,00
100,00
100,00
100,00
100,00
Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
23,24
23,03
22,54
21,81
20,89
Công nghiệp và xây dựng
38,13
38,49
39,47
40,21
41,03
Riêng công nghiệp
32,33
32,6
33,42
33,98
34,68
Dịch vụ
36,63
38,48
37,99
37,98
38,08
Tổng thu ngân sách Nhà nước năm 2005 ước tính tăng 16,6% so với năm 2004 và đạt 115% dự toán cả năm. Trong tổng số, các khoản thu nội địa đạt 109,2% dự toán; thu từ dầu thô đạt 146,1% (chủ yếu do giá dầu tăng cao so với khi lập dự toán); thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu bằng dự toán năm. Các khoản thu chủ yếu trong thu nội địa nhìn chung vượt dự toán cả năm, trong đó thu từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (không kể thu từ dầu thô) đạt 114,2%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh 106,4%; thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao 107,3%; các khoản thu về nhà đất chỉ đạt 133,6%; riêng các khoản thu từ kinh tế quốc doanh chỉ đạt 101,9%.
Tổng chi ngân sách Nhà nước năm 2005 ước tính đạt 112,5% dự toán cả năm và tăng 19,5% so với năm 2004, đã đảm bảo nhu cầu chi từ ngân sách Nhà nước. Trong tổng số, chi cho đầu tư phát triển đạt 106,1% dự toán (chi đầu tư xây dựng cơ bản đạt 105,5%); chi thường xuyên đạt 107,8%; chi trả nợ và viện trợ đạt mức dự toán năm. Những khoản chi lớn và quan trọng trong chi thường xuyên nhìn chung đều đạt dự toán cả năm, trong đó chi cho giáo dục và đào tạo đạt 104,3; chi cho y tế 107,5%; chi lương hưu và bảo đảm xã hội 102,9%; chi quản lý hành chính, Đảng, Đoàn thể 111,9%; chi sự nghiệp kinh tế 130,2%… Bội chi ngân sách bằng mức dự toán cả năm và bằng 4,9% GDP, trong đó được bù đắp bằng nguồn vay trong nước là 81,6% và vay nước ngoài 18,4%.
Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm 2005 diễn ra trong điều kiện không thuận lợi: Hạn hán gay gắt và kéo dài trong suốt mùa khô ở Tây Nguyên và Duyên hải Nam Trung Bộ; mưa bão diễn biến phức tạp; giá nhiều loại nguyên, nhiên, vật liệu tăng; dịch cúm gia cầm tái phát ở nhiều địa phương. Tuy nhiên, nhờ sự chỉ đạo kịp thời có hiệu quả của các cấp, các ngành; giá nhiều loại nông sản trong nước tăng so với năm 2004 nên sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản năm nay không bị ảnh hưởng nhiều. Giá trị sản xuất khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm 2005 tính theo giá so sánh năm 1994 ước tính đạt 182,0 nghìn tỷ đồng, tăng 4,9% so với năm 2004; trong đó nông nghiệp đạt 137,1 nghìn tỷ đồng, tăng 3,2%; lâm nghiệp 6,3 nghìn tỷ đồng, tăng 1,2%; thuỷ sản 38,6 nghìn tỷ đồng, tăng 12,1%. Tình hình sản xuất của từng ngành như sau:
Nông nghiệp
Trồng trọt: Sản lượng lúa cả nước năm nay đạt 35,79 triệu tấn, giảm 35,8 vạn tấn so với năm 2004, trong đó các địa phương phía Bắc đạt 12,45 triệu tấn, giảm 67,9 vạn tấn, các địa phương phía Nam đạt 23,34 triệu tấn, tăng 32,1 vạn tấn. Diện tích lúa đạt 7326,4 nghìn ha, giảm 119 nghìn ha; năng suất đạt 48,9 tạ/ha, xấp xỉ năm 2004. Riêng đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục khẳng định là vựa lúa của cả nước, nơi cung cấp sản phẩm hàng hoá cho xuất khẩu với diện tích đạt 3,8 triệu ha, sản lượng đạt 19,23 triệu tấn, tăng 66,7 vạn tấn so với năm 2004. Nếu tính thêm 3,76 triệu tấn ngô và các loại cây lương thực có hạt khác thì sản lượng lương thực có hạt cả nước năm nay đạt 39,55 triệu tấn, xấp xỉ sản lượng năm 2004.
Sản xuất cây công nghiệp hàng năm tăng khá so với năm trước, trong đó sản lượng đậu tương đạt 291,5 nghìn tấn, tăng 18,5%; lạc 485,5 nghìn tấn, tăng 3,5%; thuốc lá 25,9 nghìn tấn, tăng 10,7%; riêng cây mía do giá mía nguyên liệu không ổn định và một số diện tích mới trồng chưa thu hoạch, nên sản lượng chỉ đạt 14,7 triệu tấn, giảm 5,9%.
Kết quả sản xuất cây công nghiệp lâu năm có nhiều tiến bộ so với năm trước do diện tích thu hoạch được mở rộng, trong đó sản lượng chè đạt 534,2 nghìn tấn, tăng 4%; cao su 468,6 nghìn tấn, tăng 11,8%; hồ tiêu 77 nghìn tấn, tăng 4,9%; điều 232 nghìn tấn, tăng 13,3%; riêng cà phê sản lượng 767,7 nghìn tấn, giảm 8,2% do nắng hạn.
Tổng diện tích cây ăn quả đạt 766,1 ngàn ha, tăng 2,6% so với năm 2004, chủ yếu do cải tạo vườn tạp và tăng diện tích cây trồng đặc sản, có giá trị hàng hoá cao. Sản lượng cam, quýt tăng 12%; dứa tăng 13,9%; xoài tăng 12,8%; nhãn tăng 3,7%; bưởi tăng 15,7%; vải giảm 25,2%.
Chăn nuôi: Nhờ nguồn thức ăn dồi dào, nhu cầu thực phẩm thay thế cho các sản phẩm gia cầm tăng và giá bán sản phẩm ổn định ở mức cao nên chăn nuôi gia súc trên địa bàn cả nước phát triển nhanh, đặc biệt tỷ lệ bò sinh sản, bò thịt, bò lai sind đang có xu hướng tăng cao; bò sữa đang phục hồi và được chăn nuôi chủ yếu theo phương thức nuôi công nghiệp nên sản lượng sữa đạt khá; đàn lợn phát triển theo mô hình trang trại, vườn trại với quy mô đầu con, số vòng quay và sản lượng xuất chuồng tăng đáng kể.
Cả nước có 2,9 triệu con trâu, tăng 1,8% so với năm 2004, chủ yếu tăng đàn trâu thịt; đàn bò 5,5 triệu con, tăng 12,9%, trong đó đàn bò lai tăng 30%; đàn lợn 27,4 triệu con, tăng 4,9%. Chăn nuôi gia cầm bị ảnh hưởng lớn bởi dịch cúm tái phát, tính từ 1/10/2005 đến nay tổng số gia cầm bị tiêu huỷ là 3,58 triệu con, trong đó gà 1,21 triệu con; ngan, vịt 1,89 triệu con.
Lâm nghiệp.
Diện tích rừng trồng tập trung cả nước năm nay đạt 184,5 nghìn ha, tăng 0,1% so với năm 2004; số cây phân tán (chỉ tính cây lâm nghiệp) đạt 245,8 triệu cây, tăng 1,9%; sản lượng gỗ khai thác (kể cả gỗ nguyên liệu giấy) đạt 2703,0 nghìn m3, tăng 2,9%.
Công tác bảo vệ, phòng chống cháy rừng tuy được Nhà nước quan tâm và đầu tư nhiều hơn trước, nhưng do thời tiết trong năm diễn biến phức tạp, nắng nóng kéo dài gây hạn hán ở nhiều nơi nên diện tích rừng bị thiệt hại vẫn ở mức cao với 10296,6 ha, tăng 46,2% so với năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy 7552,5 ha, tăng 57,8%. Một số tỉnh có diện tích rừng bị thiệt hại nhiều là Kon Tum cháy 1483,3 ha, Điện Biên cháy 876,9 ha.
Thuỷ sản.
Sản lượng thuỷ sản cả nước năm nay ước tính đạt 3432,8 nghìn tấn, tăng 9,2% so với năm 2004, trong đó cá 2400,9 nghìn tấn, tăng 7,7%; tôm 441 nghìn tấn, tăng 13,4%.
Nuôi trồng thuỷ sản năm 2005 tuy gặp khó khăn về thời tiết nhưng nhờ đa dạng hoá hình thức nuôi trồng theo hướng hiệu quả cao và bền vững nên sản lượng đạt 1437,4 nghìn tấn, tăng 19,5% so với năm 2004, trong đó cá tăng 22,6%; tôm tăng 17,2%. Diện tích nuôi trồng thuỷ sản đạt 959,9 nghìn ha, tăng 4,3%, trong đó diện tích nuôi cá 290 nghìn ha, tăng 4,1%; diện tích nuôi tôm 622,4 nghìn ha, tăng 3%.
Hoạt động khai thác thuỷ sản tuy được thời tiết ủng hộ nhưng lại đối mặt với giá xăng dầu lên cao. Để khắc phục khó khăn, các địa phương đã hướng dẫn ngư dân hợp tác sản xuất, bám biển dài ngày, tìm ngư trường mới, tổ chức các đội tàu dịch vụ thu mua sản phẩm và cung ứng nhiên liệu cho tàu đánh bắt xa bờ, góp phần giảm chi phí sản xuất, tăng năng suất tàu, thuyền. Nhờ đó, sản lượng hải sản đánh bắt vẫn tăng, tỷ trọng hải sản đánh bắt xa bờ ngày càng lớn, trong đó có những sản phẩm phục vụ xuất khẩu như cá ngừ đại dương, tôm hùm, mực ống. Sản lượng khai thác năm nay ước tính đạt 1995,4 nghìn tấn, tăng 2,9% so với năm 2004, trong đó khai thác biển 1809,7 nghìn tấn, tăng 4,4%.
Sản xuất công nghiệp
Sản xuất công nghiệp năm 2005 tiếp tục duy trì được tốc độ tăng trưởng cao so với kế hoạch đề ra và tăng cao hơn so với tốc độ tăng của những năm gần đây. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2005 theo giá cố định 1994 ước tính tăng 17,2% so với năm 2004, trong đó khu vực Nhà nước, chiếm tỷ trọng 34,3% giá trị sản xuất công nghiệp, tăng 8,7% (doanh nghiệp Nhà nước do trung ương quản lý tăng 13,1% và doanh nghiệp Nhà nước do địa phương quản lý giảm 2%); khu vực ngoài quốc doanh, chiếm tỷ trọng 28,5%, tăng 24,1%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng 37,2%, tăng 20,9% (dầu mỏ, khí đốt đạt 27,1 nghìn tỷ, giảm 4,6%, các ngành khác đạt 127,9 nghìn tỷ, tăng 28,1%). Trong các khu vực kinh tế, khu vực doanh nghiệp Nhà nước có tốc độ tăng thấp, do số doanh nghiệp giảm, giảm nhiều nhất là doanh nghiệp Nhà nước địa phương quản lý, do tiếp tục thực hiện chủ trương của Nhà nước về đổi mới, sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước (có qui mô sản xuất nhỏ, hiệu quả sản xuất thấp hoặc làm ăn thua lỗ) chuyển sang các hình thức sở hữu khác như cổ phần hoá.
Trong ba ngành công nghiệp cấp I, công nghiệp khai thác chiếm tỷ trọng 9,1% giá trị sản xuất công nghiệp, chỉ tăng 1,4%, chủ yếu do khai thác dầu thô giảm, (sản lượng khai thác dầu thô năm 2005 ước tính chỉ đạt 92,3% sản lượng năm 2004); công nghiệp chế biến chiếm tỷ trọng 84,9%, tăng 19,5% so với năm trước, đóng góp chính vào tăng giá trị sản xuất công nghiệp 2005; sản xuất, phân phối điện, ga và nước chiếm tỷ trọng xấp xỉ 6%, tăng 14,1% so với cùng kỳ, cao hơn mức tăng của một số năm gần đây, chủ yếu do một số nhà máy điện được Nhà nước đầu tư xây dựng thêm đã đi vào hoạt động trong năm 2005.
Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng mạnh so với năm 2004 như: Than sạch khai thác năm 2005 ước tính đạt 32,6 triệu tấn, tăng 21,7% so với năm trước; thuỷ sản chế biến 594,6 nghìn tấn, tăng 15,9%; sữa hộp tăng 15,2%; phân hoá học 2,2 triệu tấn, tăng 24,7%; gạch lát 134,1 triệu m2, tăng 21,9%; thép cán 3,7 triệu tấn, tăng 21,8%; dây cáp điện 72,3 triệu m, tăng 39,8%; máy công cụ tăng 32,8%; ô tô lắp ráp tăng 31,1% và điện tăng 15,4%. Một số sản phẩm chủ yếu tăng ở mức 10-15% so với năm trước, do khó khăn trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm: quần áo may sẵn tăng 14,8%; giấy bìa tăng 12,7%; xi măng tăng 11,9%, xe máy lắp ráp tăng 11,7%; bia tăng 10,3%… Bên cạnh đó có một số sản phẩm giảm so với năm 2004 như: dầu thô khai thác giảm 7,7%; ga hoá lỏng giảm 7,3%; đường mật giảm 18,5%; ti vi lắp ráp giảm 7,5%; xe đạp hoàn chỉnh giảm 20,5%…
Nhìn chung, công nghiệp năm 2005 tăng trước hết do tăng cầu sản phẩm công nghiệp được sản xuất trong nước trên thị trường nội địa và tăng xuất khẩu sản phẩm công nghiệp, trong đó xuất khẩu một số mặt hàng tăng mạnh như than đá, các sản phẩm điện tử, điện lạnh; dây điện và cáp điện; sản phẩm nhựa; sản phẩm gỗ… Nhà nước tăng đầu tư cho các công trình công cộng, kết cấu hạ tầng … làm tăng nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm liên quan, đặc biệt là các sản phẩm phục vụ xây dựng như sắt, thép, xi măng… Qui mô sản xuất công nghiệp được mở rộng so với năm 2004: Theo ước tính sơ bộ, số doanh nghiệp công nghiệp thực tế đang hoạt động đầu năm 2005 khoảng trên 23 nghìn doanh nghiệp, tăng 27,5% so với đầu năm 2004; tương ứng với số lao động tăng 12,6%; vốn tăng 25,6%; doanh thu tăng trên 30% so với năm 2004. Trong tổng số, doanh nghiệp công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt động là 2352, tăng 17,2% so với đầu năm 2004; lao động tăng 21,7%; vốn tăng 42%. Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực công nghiệp trong những năm qua tăng nhanh, tạo tiền đề cho khu vực này tăng trưởng cao và ổn định và chính khu vực này đã cung cấp nhiều sản phẩm mới có giá trị cao, tiêu thụ tốt ở thị trường trong nước và cung cấp cho xuất khẩu.
Đầu tư
Thực hiện vốn đầu tư phát triển năm 2005 theo giá thực tế sơ bộ đạt 324 nghìn tỷ đồng, tăng 8% so với kế hoạch năm. Trong tổng số, vốn Nhà nước chiếm 53,1%, vốn ngoài Nhà nước chiếm 32,4%, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 14,5%.
Bảng 3. Thực hiện vốn đầu tư phát triển năm 2005
Kế hoạch 2005 (Nghìn tỷ đồng)
Ước thực hiện năm 2005
(Nghìn tỷ đồng)
% so với kế hoạch năm
Tổng số = 100 (%)
Tổng số
300,0
324,0
108,0
100,0
Vốn Nhà nước
171,0
172,0
100,6
53,1
Vốn ngoài Nhà nước
86,0
105,0
122,1
32,4
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
43,0
47,0
109,3
14,5
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc vốn ngân sách Nhà nước năm 2005 ước thực hiện 62,93 nghìn tỷ đồng, bằng 121,2% kế hoạch cả năm, trong đó các đơn vị Trung ương 24,57 nghìn tỷ đồng bằng 123,5% kế hoạch năm; các đơn vị địa phương 38,36 nghìn tỷ đồng bằng 119,8%. Trong khối các đơn vị trung ương quản lý, Bộ giao thông vận tải thực hiện 7949 tỷ đồng, bằng 138% kế hoạch năm; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn 2309 tỷ đồng, đạt 126,3%; các Bộ khác đạt tỷ lệ kế hoạch vốn phổ biến ở mức từ 95%; riêng Bộ Thuỷ sản mới đạt 86%.
Về đầu tư trực tiếp của nước ngoài, từ đầu năm đến ngày 15/12/2005, trên phạm vi cả nước đã có 771 dự án mới được cấp phép đầu tư với tổng vốn đầu tư đăng ký 3,9 tỷ USD, bình quân vốn 1 dự án mới được cấp phép là 5,1 triệu USD. Theo ngành kinh tế, các dự án mới được cấp phép trong năm nay vẫn chủ yếu tập trung vào công nghiệp và xây dựng, đặc biệt là lĩnh vực công nghiệp có nhiều dự án và qui mô lớn hơn nhiều so với các dự án đầu tư vào nông, lâm nghiệp và thuỷ sản.
Bảng 4: Đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2005
Số dự án mới đuọc cấp phép
Số vốn đăng ký (Triệu USD)
% của tổng số
Vốn bình quân một dự án (Triệu USD)
Dự án
Vốn đăng ký
Tổng số
771
3896,2
100,0
100,0
5,05
Công nghiệp và xây dựng
519
2340,0
67,3
60,1
4,51
Công nghiệp dầu khí
1
20,0
0,1
0,5
20,00
Công nghiệp nặng
245
638,7
31,8
16,4
2,61
Công nghiệp nhẹ
221
1557,4
28,7
40,0
7,05
Công nghiệp thực phẩm
28
80,4
3,6
2,1
2,87
Xây dựng
24
43,7
3,1
1,1
1,82
Nông lâm nghiệp, thuỷ sản
75
122,6
9,7
3,1
1,63
Dịch vụ
177
1433,4
23,0
36,8
8,10
Cũng tính từ đầu năm đến ngày 15/12/2005 đã có 42 quốc gia và vùng lãnh thổ được cấp phép dự án đầu tư mới tại Việt Nam. Có 40 tỉnh, thành phố có dự án đầu tư nước ngoài mới được cấp phép. Có 509 lượt dự án được tăng vốn trong năm nay, với tổng số vốn tăng thêm là 1825,8 triệu USD, trong đó các ngành công nghiệp 404 dự án với 1407,4 triệu USD; xây dựng 10 dự án với 92,1 triệu USD; nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 56 dự án với 204 triệu USD và dịch vụ 49 dự án với 214,4 triệu USD. Tính chung trong năm nay, cả vốn cấp mới và vốn tăng thêm đạt 5,72 tỷ USD, là mức thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài khá cao so với những năm gần đây.
Thương mại, giá cả và du lịch
Thị trường trong nước năm nay diễn biến phức tạp, do ảnh hưởng của biến động giá trên thị trường thế giới, nhất là giá xăng dầu và một số vật tư nguyên liệu tăng mạnh đã làm tăng giá trong nước. Tuy nhiên, do sản xuất tiếp tục tăng trưởng, giá nông sản tăng có lợi cho nông dân và điều chỉnh tăng lương khu vực hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, nên thu nhập của dân cư tăng, kéo theo cầu tăng. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ quí IV tiếp tục tăng so với cùng quí năm trước, sơ bộ cả năm tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ đạt 475,38 nghìn tỷ đồng, tăng 20,5% so với năm trước và tăng khoảng 12%, nếu loại trừ yếu tố tăng giá. Khu vực kinh tế Nhà nước đạt 62,13 nghìn tỷ đồng, chiếm 13,1% tổng mức và chỉ tăng 3,9% so với năm trước, như vậy nếu loại trừ giá thì khu vực này giảm; khu vực kinh tế tập thể đạt 5 nghìn tỷ đồng, chiếm 1%, tăng 16,8%; khu vực kinh tế cá thể đạt 288,92 nghìn tỷ đồng, chiếm 60,8%, tăng 25,3%; khu vực kinh tế tư nhân 101,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 21,3% và tăng 19,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 18,23 nghìn tỷ đồng, chiếm 3,8% và tăng 20,7%. Theo ngành kinh doanh, tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ xã hội ngành thương nghiệp chiếm 77,9% tổng mức và tăng 19% so với cùng kỳ năm trước; khách sạn, nhà hàng tăng 28,6%, ngành dịch vụ tăng 23,8%. Cụ thể như sau:
Bảng 5. Tổng mức bán lẻ hàng hoá
và dịch vụ xã hội năm 2005
Tổng mức (Nghìn tỷ đồng giá thực tế)
Cơ cấu
(Tổng số =100) %
Tốc độ tăng danh nghĩa so với 9 tháng 2004 (%)
TỔNG SỐ
475,38
100,0
20,5
Thương nghiệp
370,22
77,9
19,0
Khách sạn, nhà hàng
58,01
12,2
28,6
Dịch vụ
43,56
9,2
23,8
Du lịch
3,59
0,7
19,9
Giá tiêu dùng tháng 12/2005 tiếp tục tăng 0,8% so với tháng trước, bằng mức tăng giá của tháng 9 và là mức tăng tương đối cao so với mức tăng 0,4% của 10 và tháng 11. Như vậy, giá tiêu dùng so với tháng trước của tất cả các tháng trong năm 2005 đều tăng lên tuy mức độ có chênh lệch giữa các tháng, tăng thấp nhất là 0,4% và tăng cao nhất là 2,5% (tháng 2/2005, là tháng Tết). Giá tháng 12 so với tháng trước của 9/10 phân nhóm tăng, trong đó giá phân nhóm lương thực, thực phẩm và dịch vụ ăn uống ngoài gia đình tăng 1,4% (lương thực tăng 1,2% và thực phẩm tăng 1,7%), đã đóng góp 0,67 điểm phần trăm vào tăng giá chung; ba nhóm tiếp theo là nhà ở vật liệu xây dựng; thiết bị và đồ dùng gia đình; hàng may mặc, giày dép, mũ nón đều tăng 0,6% và mỗi nhóm đóng góp 0,5 điểm phần trăm. Các nhóm còn lại tăng từ 0,2 đến 0,7%; riêng giá phương tiện đi lại, bưu điện giảm 1,1% (trong nhóm này, giá bưu chính viễn thông không thay đổi so với tháng trước).
So với tháng 12/2004, giá tiêu dùng tháng 12 năm 2005 tăng 8,4%. Đáng chú ý là giá của tất cả 10 nhóm hàng hoá và dịch vụ đều tăng: một số nhóm giá tăng cao, đóng góp chính vào tăng giá tiêu dùng so với tháng 12/2004 như giá lương thực, thực phẩm tăng 10,8%; nhóm nhà ở, vật liệu xây dựng tăng 9,8%; nhóm phương tiện đi lại, bưu điện tăng 9,1% (trong đó nhóm phương tiện đi lại tăng khá cao, bưu chính viễn thông giảm 9,2%). Gía bình quân 12 tháng tăng 8,3% so với năm 2004, là mức tăng khá cao so với các năm gần đây: giá 2004 tăng bình quân 7,7%, năm 2003 tăng 3,2%; giá 2002 tăng 3,9%.
Giá vàng tháng 12 đạt mức tăng kỷ lục so với tháng trước (+7,5%), và vượt mức tăng giá của tất cả các tháng từ đầu năm đến nay (giá vàng tháng 10 so với tháng trước đạt mức tăng cao nhất từ đầu năm cũng chỉ đạt mức tăng 4,1%). Giá vàng tăng mạnh chủ yếu do giá vàng trên thị trường thế giới tăng, mặt khác do tăng lãi suất đồng đô la Mỹ và tăng giá tiêu dùng, người dân đã chuyển sang dự trữ vàng nhiều hơn trước, làm tăng cầu. So với tháng 12 năm 2004 giá vàng tăng 11,3%. Giá đô la Mỹ tương đối ổn định, giá các tháng so với tháng trước chỉ tăng ở mức từ 0% đến 0,2%; so với tháng 12 năm trước tăng 0,9%, bình quân 12 tháng tăng 0,6% so với năm trước.
Quảng cáo
Bạn cần hỏi gì?
Câu hỏi hot cùng chủ đề
-
Hỏi từ APP VIETJACK67557
-
56494
